BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

KIẾN THỨC PHỔ THÔNG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH / HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN

VĂN HỌC CẢM NHẬN TÁC PHẨM

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

TDMNPB_tunhien.jpg Ban_do_cac_nuoc_Dong_Nam_A.jpg HB_MDDS.jpg HB_NHOMNUOC.jpg BANDOKINHTE.jpg Gioi_han_sinh_thai_ca_ro_phi.png Gioi_han_sinh_thai_cua_tam.png Gioi_han_sinh_thai_xuong_rong.png

SÁCH ĐIỆN TỬ SÁCH THAM KHẢO

KIẾN THỨC LỊCH SỬ - TỰ HÀO VIỆT NAM

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Định hướng nghề nghiệp 4.0

    Hoa Nhẫn Nhục

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 19h:04' 20-03-2024
    Dung lượng: 638.0 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    HOA NHẪN NHỤC
    Tác giả: Nguyên Minh
    Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác
    giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự
    cho phép bằng văn bản của chúng tôi.
    GPXB số 493-2007/CXB/04-176/TG
    QĐXB số 307/QĐ-TG

    In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh
    416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt
    Nam

    Published by arrangement between Huong Trang Cultural
    Company Ltd. and the author.
    All rights reserved. No part of this book may be reproduced by
    any means without prior written permission from the publisher.

    NGUYÊN MINH

    Tủ sách rộng mở tâm hồn

    HOA
    NHẪN NHỤC

    NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

    LỜI NÓI ĐẦU

    C

    uộc sống quanh ta luôn có biết bao điều
    trái ý. Trong đời sống vật chất cũng như
    tinh thần, mỗi một sự việc xảy đến cho ta đều phụ
    thuộc vào vô số những nguyên nhân đến từ bên
    ngoài, và rất nhiều trong số những nguyên nhân
    ấy lại chẳng bao giờ nằm trong tầm kiểm soát của
    chúng ta. Vì thế, chúng ta không bao giờ có thể
    nói chắc được rằng một sự việc nào đó rồi có diễn
    ra theo đúng ý muốn của mình hay không. Hơn
    thế nữa, khả năng bất như ý lại dường như luôn
    chiếm một tỷ lệ lớn hơn nhiều so với những trường
    hợp xuôi chèo mát mái.
    Nhưng có một vấn đề mà có lẽ chúng ta ai cũng
    phải thừa nhận là, trong hầu hết các trường hợp
    trái ý thì những thương tổn về mặt vật chất đối với
    ta thường không quan trọng bằng sự tổn thương
    5

    Hoa nhẫn nhục
    về mặt tinh thần, tình cảm. Khi bạn hỏng thi vào
    đại học chẳng hạn, vấn đề quan trọng hơn đối với
    bạn không phải là việc phải mất thêm một năm
    học lại, mà chính là những áp lực tâm lý nặng nề
    trước sự thất vọng của gia đình và những mặc
    cảm thua kém bè bạn. Chính những trạng thái
    tinh thần tiêu cực này mới là nguyên nhân chính
    yếu dẫn đến sự khổ đau, dằn vặt trong những
    trường hợp trái ý mà chúng ta gặp phải. Và cũng
    chính những hệ quả tinh thần này mới tồn tại lâu
    dài, đeo bám chúng ta một cách dai dẳng, ngay cả
    khi mọi hệ quả về mặt vật chất có thể đã được giải
    quyết xong.
    Hầu hết những quy luật tự nhiên quanh ta
    cũng diễn ra theo hướng ngược lại với lòng mong
    muốn. Không ai muốn chết đi, nhưng rồi mọi
    người đều phải chết. Ai cũng muốn được mãi mãi
    trẻ đẹp, tráng kiện, nhưng rồi mọi người ai cũng
    phải già yếu đi. Ai cũng muốn được khỏe mạnh,
    nhưng rồi mọi người không ai thoát khỏi bệnh tật.
    Không ai muốn bị chia cách vĩnh viễn với những
    người thân yêu, nhưng rồi theo thời gian những
    6

    Lời nói đầu
    người thân quanh ta cứ lần lượt ra đi mãi mãi...
    Tất cả những điều ấy đều là nguyên nhân dẫn
    đến những tâm trạng khổ đau trong đời sống.
    Đạo Phật nhìn nhận sự thật này ở một tầm vóc
    lớn lao và toàn diện hơn nhiều so với những gì mà
    chúng ta thường gặp phải và nhận biết trong từng
    giai đoạn của đời sống. Mỗi người chúng ta thường
    chỉ nhận biết được một số những khía cạnh nhất
    định nào đó mà chúng ta cho là khổ đau, và vẫn
    không ngừng đắm say trong vô số những niềm vui
    nhỏ nhặt, những sự đam mê không tồn tại dài
    lâu mà chúng ta lại cho là ý nghĩa của đời sống...
    Nhưng từ xa xưa đức Phật đã nhìn thấy rõ bản
    chất thực sự của đời sống vốn hoàn toàn không
    giống như hầu hết chúng ta lầm tưởng. Ngài dạy
    rằng: Toàn bộ đời sống của chúng ta, hay nói rộng
    hơn là toàn bộ đời sống của mọi chúng sinh trong
    cõi thế giới mà ta đang sống, đều được cấu thành
    bởi vô số sự chịu đựng những điều bất như ý,
    những nguyên nhân dẫn đến khổ đau.
    Và vì thế, đức Phật đã gọi tên thế giới này là
    thế giới Ta-bà. Danh từ này được phiên âm từ
    7

    Hoa nhẫn nhục
    tiếng Phạn Sahā, có nghĩa là “kham nhẫn”, và
    được người Trung Hoa dịch là Nhẫn độ: thế giới
    của sự nhẫn chịu.
    Mặc dù vậy, cách nhìn nhận này hoàn toàn
    không mang ý nghĩa bi quan, cam chịu như nhiều
    người thường lầm tưởng. Đây chỉ là một cách nhìn
    nhận khách quan và thực tiễn, chỉ ra một sự thật
    mà không ai có thể phủ nhận được. Và tự thân
    của một nhận thức như vậy không thể hàm chứa
    ý nghĩa bi quan hay lạc quan. Vấn đề là chúng ta
    chọn cách ứng xử, đối phó với hoàn cảnh theo cách
    như thế nào, điều đó mới nói lên ý nghĩa tích cực
    hay tiêu cực trong quan điểm sống của mỗi người.
    Và một trong những phương pháp đối trị tích cực
    với những khổ đau trong đời sống này đã được đức
    Phật chỉ dạy từ cách đây hơn 25 thế kỷ chính là
    việc tu tập, thực hành hạnh nhẫn nhục.
    Nói đến nhẫn nhục, nhiều người thường nghĩ
    ngay đến thái độ chịu đựng, chấp nhận một tình
    huống trái ý nào đó mà không phản kháng, hoặc
    thậm chí là không tránh né. Một số người khác
    hiểu nhẫn nhục một cách nôm na là nhịn nhục,
    8

    Lời nói đầu
    chấp nhận bỏ qua những sự xúc phạm hoặc khiêu
    khích của người khác đối với mình mà không
    phản ứng đáp trả hoặc bực tức. Những cách hiểu
    như vậy thật ra cũng không hoàn toàn là sai trái,
    và trong rất nhiều trường hợp cũng có thể được
    xem là cách chọn lựa sáng suốt trong ứng xử, giúp
    chúng ta tránh được nhiều sự tranh chấp, đối đầu
    không cần thiết. Tuy nhiên, như đã nói, khái niệm
    nhẫn nhục vốn là một thuật ngữ xuất phát từ kinh
    điển Phật giáo, và do đó nó mang một số những
    nét nghĩa đặc biệt rộng hơn nhiều so với khi được
    dùng trong ngôn ngữ thông thường. Và thật ra,
    chỉ khi được hiểu đúng và đầy đủ như trong tinh
    thần Phật giáo thì nhẫn nhục mới thực sự là một
    phẩm chất tích cực, một đức tính cao cả, và mới có
    thể phát huy tối đa những công năng chuyển hóa
    và hàn gắn mọi khổ đau trong đời sống.
    Chúng ta không có một danh từ tiếng Việt nào
    tương đương để có thể diễn đạt được trọn vẹn ý
    nghĩa của danh từ Kṣānti (Sàn-đề) trong tiếng
    Phạn (Sanskrit). Các nhà dịch kinh Trung Hoa
    xưa kia đã dùng hai chữ 忍辱 (nhẫn nhục) để
    9

    Hoa nhẫn nhục
    chuyển dịch, nhưng đồng thời họ cũng phải giảng
    giải mở rộng thêm ý nghĩa của danh từ này hơn
    nhiều so với cách hiểu thông thường. Do có sự
    lúng túng này, đôi khi họ cũng thay bằng những
    danh từ khác như 安忍 (an nhẫn), 忍耐 (nhẫn nại),
    hoặc trong nhiều trường hợp khác chỉ dùng riêng
    một chữ 忍 (nhẫn) mà thôi. Người Việt chúng ta
    đã mượn trực tiếp danh từ 忍辱 từ chữ Hán và
    đọc theo âm Hán-Việt là nhẫn nhục. Danh từ này
    đã trở thành quen thuộc với hầu hết người Việt,
    nhưng điều đó không có nghĩa là ai cũng có thể
    hiểu được nó theo đúng ý nghĩa được dùng khi
    muốn diễn đạt khái niệm Kṣānti trong tiếng Phạn.
    Thông thường, nhẫn được hiểu là nhịn, và cách
    hiểu như vậy là rất giới hạn nếu không muốn nói
    là quá hẹp.
    Nhưng chúng ta sẽ tạm dừng ở đây mà không
    đi sâu vào sự rối rắm của từ ngữ, vì xét cho cùng
    thì tất cả mọi khái niệm cũng đều có những giới
    hạn nhất định của nó. Vấn đề mà chúng ta sẽ
    bàn đến trong tập sách này là những cách hiểu
    và thực hành đúng đắn hạnh nhẫn nhục theo lời
    10

    Lời nói đầu
    Phật dạy. Có thể sẽ có những khác biệt nhất định
    so với cách hiểu thông thường của đa số chúng ta
    trong đời thường, nhưng tôi tin rằng những khác
    biệt ấy là cần thiết phải nêu ra để có thể đạt đến
    những lợi ích thiết thực và lớn lao trong sự thực
    hành.
    Tên gọi bao giờ cũng chỉ là tên gọi, và vì thế
    đó không phải là điều chúng ta cần chú ý. Vấn đề
    quan trọng nhất bao giờ cũng chính là những kết
    quả có được từ sự hiểu biết và thực hành. Mọi sự
    thuyết giảng, lý giải, cho dù có tỏ ra uyên bác đến
    đâu, cầu kỳ hoa mỹ đến đâu, nhưng nếu không
    giúp gì được cho sự thực hành trong cuộc sống thì
    chắc chắn cũng không thể mang lại chút lợi ích
    thực tiễn nào. Điều đó cũng tương tự như những
    bông hoa bằng vải hoặc bằng nhựa được bày bán
    rất hấp dẫn trong các cửa hàng. Chúng chỉ có thể
    để dùng vào mục đích trang trí, chưng bày, và cho
    dù bạn có cất công chờ đợi bao lâu đi chăng nữa
    cũng chẳng bao giờ có thể nhìn thấy chúng kết
    quả, tạo hạt!
    Những bông hoa quý giá và thực sự có ích là
    những bông hoa có thể tỏa hương thơm, phô bày
    11

    Hoa nhẫn nhục
    vẻ đẹp, nhưng đồng thời cũng có thể kết quả, tạo
    hạt, nghĩa là mang đến cho chúng ta những lợi
    ích thiết thực và lớn lao. Hạnh nhẫn nhục mà tôi
    muốn trình bày với bạn đọc trong tập sách này
    là một bông hoa như thế, với tất cả những vẻ
    đẹp tinh thần cao quý có khả năng cảm phục và
    chuyển hóa mọi người quanh ta, với tất cả những
    hương thơm đức hạnh mà bất cứ ai khi tiếp xúc
    cũng đều phải mến mộ, kính ngưỡng, và với tất cả
    hạt giống lành được kết tụ sẽ luôn mang lại cho
    chúng ta vô số những lợi ích lớn lao trong đời sống
    hôm nay và mai sau. Vì tất cả những phẩm chất
    cao cả và tốt đẹp ấy nên tôi muốn gọi tên đó là hoa
    nhẫn nhục.
    Những gì được trình bày sau đây ngoài những
    gì được ghi chép trong kinh điển còn có cả phần
    mô tả chủ quan từ cảm nhận của người viết khi
    ngắm nhìn đóa hoa nhẫn nhục trong đời sống. Và
    như đã nói, người viết chỉ quan tâm đến những gì
    thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống,
    nên mọi ý tưởng dù cao siêu, sâu sắc đến đâu cũng
    cần phải diễn đạt theo cách sao cho mọi người đều
    có thể tiếp nhận được. Một sự cố gắng như thế
    12

    Lời nói đầu
    không phải là việc dễ dàng, và chắc chắn không
    thể tránh khỏi ít nhiều sự sai sót, lệch lạc. Mong
    rằng độc giả sẽ có thể xem những gì trình bày
    trong sách này như một sự chia sẻ, trao đổi kinh
    nghiệm sống hơn là một sự tỏ bày quan điểm hay
    thuyết giảng giáo lý. Vì thế, mọi ý kiến đóng góp,
    xây dựng đều sẽ được người viết hoan nghênh và
    đón nhận với lòng biết ơn sâu sắc nhất.
    Trong vườn hoa đức hạnh, chúng ta đã nghe
    biết nhiều đến những loài hoa quý như hoa từ bi,
    hoa trí tuệ... Thật ra, những phẩm chất cao quý
    ấy cũng có thể được nhận biết trong loài hoa nhẫn
    nhục mà chúng ta sẽ chiêm ngưỡng hôm nay. Vì
    thế, một khi ta chịu bỏ công vun xới, gieo trồng một
    trong các loài hoa quý, chúng ta sẽ có thể thông
    qua đó mà nhận biết được phẩm chất của những
    loài hoa khác. Mong sao mỗi người trong chúng
    ta đều tự mình gieo trồng và chiêm ngưỡng, nâng
    niu những loài hoa quý ấy để có thể cảm nhận
    được phẩm chất tuyệt vời mà không một loài hoa
    thế gian nào có được, như sự mô tả của kệ ngôn số
    54 trong kinh Pháp cú:
    13

    Hoa nhẫn nhục
    Hương các loại hoa thơm,
    Không ngược bay chiều gió.
    Chỉ hương người đức hạnh,
    Ngược gió khắp tung bay.
    Hương thơm đức hạnh là loại hương thơm duy
    nhất có thể ngược bay chiều gió, lan tỏa khắp
    quanh ta; và cũng là loại hương thơm duy hhất
    không chỉ mang đến sự thỏa mãn cho khứu giác
    mà còn đem lại sự an vui, hạnh phúc cho bản thân
    ta cũng như tất cả mọi người. Và một trong những
    phương cách để được tận hưởng loại hương thơm
    nhiệm mầu kỳ diệu ấy là chúng ta hãy sớm cùng
    nhau gieo trồng trong tâm mình loài hoa nhẫn
    nhục.
    Nhưng trước hết, ngay bây giờ đây, với tất cả
    sự trân trọng, thành kính và thân thiết, xin mời
    bạn đọc hãy cùng tôi bước vào khu vườn nhỏ để
    chiêm ngưỡng loài hoa ấy: loài hoa mang tên Hoa
    nhẫn nhục!
    Mùa Phật đản 2551 (2007)
    Trân trọng,
    Nguyên Minh
    14

    Một câu nhịn, chín câu lành...

    T

    heo cách hiểu thông thường của đa số
    chúng ta, nhẫn nhục có nghĩa là nhịn
    nhục, chịu đựng. Tiêu biểu nhất là tinh thần
    nhẫn nhục này khi đi vào dân gian đã được người
    xưa thể hiện qua câu tục ngữ: “Một câu nhịn, chín
    câu lành.” Trong mọi sự mâu thuẫn, xích mích với
    người khác, biết nhịn nhục là điều tốt nhất, vì nó
    sẽ mang đến mọi sự an ổn thay vì là hiềm khích,
    tranh chấp.
    Cách hiểu này có thể giúp ta có được một quan
    điểm sống ôn hòa hơn, khuyến khích mọi người
    cùng cố gắng duy trì sự đoàn kết và hòa khí trong
    cộng đồng. Tuy nhiên, dù sao ta cũng có thể thấy
    ngay là ở đây chỉ nêu lên một cách rất chung chung.
    Trong thực tế, lắm khi có những trường hợp mà
    15

    Hoa nhẫn nhục
    không phải sự nhịn nhục, chịu đựng hay thối lui
    bao giờ cũng là giải pháp tốt nhất. Và trong một
    chừng mực nào đó, giải pháp “nhịn nhục” còn có
    phần tiêu cực vì nó góp phần vào sự tồn tại của
    những yếu tố xấu trong cộng đồng.
    Sự thật là trong mỗi một tập thể đều có những
    phần tử xấu nào đó, bởi vì ngay trong mỗi con
    người chúng ta cũng đều tồn tại những yếu tố xấu
    nhất định. Sự nhịn nhục có thể là giải pháp tốt
    trong một số trường hợp, nhưng khi đối mặt với
    những yếu tố xấu thì nó trở thành tiêu cực, vì nó
    cản trở sự vươn lên hoàn thiện của bản thân mỗi
    người cũng như của cả cộng đồng.
    Khi một thành viên có những cung cách ứng xử
    sai trái, gây tổn hại đến những thành viên khác
    trong cộng đồng, sự nhịn nhục đối với anh ta sẽ là
    một quyết định sai lầm, có hại cho mọi người và
    cho cả bản thân anh ta. Ngược lại, những phản
    ứng thích hợp cần thiết sẽ giúp anh ta có điều
    kiện nhận biết và điều chỉnh hành vi không tốt
    16

    Một câu nhịn chín câu lành
    của mình, và điều đó không chỉ giúp ngăn ngừa
    những tổn hại cho mọi người mà còn có lợi cho
    chính bản thân anh ta, vì nó giúp anh trở thành
    một người hoàn thiện hơn.
    Vì thế, nếu hiểu nhẫn nhục là nhịn nhục,
    chịu đựng, thì cần thiết phải hiểu thêm rằng đó
    là sự nhịn nhục, chịu đựng trong những trường
    hợp thích hợp. Nói khác đi, cách hiểu như vậy là
    còn quá hẹp so với ý nghĩa thực sự của khái niệm
    nhẫn nhục.
    Vậy nhẫn nhục là gì? Để hiểu được một cách
    đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này, điều tất nhiên
    là chúng ta phải quay sang tìm hiểu những sự
    giảng giải trong kinh luận của Phật giáo, bởi vì
    đây là một thuật ngữ Phật giáo được mượn dùng
    để dịch từ Kṣānti (Sàn-đề) trong tiếng Phạn.
    Trong kinh Phật, hạnh nhẫn nhục được xếp
    vào một trong sáu pháp tu gọi là ba-la-mật, nghĩa
    là những pháp tu có thể giúp ta đạt đến sự giải
    thoát. Kinh Giải thâm mật (解深密經) quyển 4,
    giải thích về nhẫn nhục bao gồm 3 ý nghĩa. Một là
    nại oán hại nhẫn (耐怨害忍), nghĩa là nhận chịu
    17

    Hoa nhẫn nhục
    những điều tổn hại do người khác gây ra cho mình.
    Hai là an thọ khổ nhẫn (安受苦忍), nghĩa là có thể
    an nhiên chấp nhận mọi sự đau đớn, khổ não. Và
    ba là đế sát pháp nhẫn (諦察法忍), nghĩa là có
    thể quan sát, nhận biết đúng bản chất của mọi sự
    việc để an nhiên chấp nhận. Thêm vào đó, luận
    Du-già sư địa (瑜伽師地論) quyển 51 mô tả hạnh
    nhẫn nhục bao gồm ba tính chất: một là không
    giận tức, hai là không kết thành thù oán, và ba là
    trong lòng không có những ý tưởng xấu ác.1
    Kết hợp sự giải thích và mô tả trong 2 bản kinh
    luận nêu trên, chúng ta có thể hiểu được rằng
    nhẫn nhục không chỉ đơn giản là sự nhịn nhục,
    chịu đựng, mà bao hàm một sự nhận thức, hiểu
    biết sâu sắc và toàn diện về đối tượng, sự việc, từ
    đó mới dẫn đến sự chấp nhận với một tinh thần
    từ hòa, không có sự sinh khởi của sân hận và tư
    tưởng xấu ác, và vì thế cũng không tạo ra sự thù
    hận, oán ghét.
    1

    Nguyên văn chữ Hán: 忍辱含不忿怒、不結怨、心不懷惡
    意... (Nhẫn nhục hàm bất phẫn nộ, bất kết oán, tâm bất hoài ác

    ý... )

    18

    Một câu nhịn chín câu lành
    Còn rất nhiều kinh luận khác giảng giải sâu
    xa và toàn diện hơn về hạnh nhẫn nhục, vốn được
    xem là một trong các pháp tu quan trọng. Tuy
    nhiên, trong phạm vi chúng ta đang muốn bàn
    đến thì có thể tạm chấp nhận một định nghĩa như
    trên là tương đối hoàn chỉnh. Vấn đề ở đây là,
    ngay cả một định nghĩa được giới hạn tương đối
    như thế cũng có thể đã là phức tạp và khó hiểu
    đối với một số người. Vì thế, có lẽ tốt hơn chúng ta
    nên nói rộng thêm đôi chút về những điểm chi tiết
    trong định nghĩa này.
    Trước hết, cả 3 tính chất được mô tả trong bộ
    luận Du-già sư địa - không giận tức, không kết
    thành thù oán và không có ý tưởng xấu ác - phải
    được xem là những yếu tố tất yếu, không thể thiếu
    được đối với hạnh nhẫn nhục. Khi thiếu đi một
    trong các yếu tố này, cho dù ta có chấp nhận, có
    nhịn nhục được đối với bao nhiêu sự việc đi nữa,
    thì điều đó cũng hoàn toàn không thể xem là thực
    hành được hạnh nhẫn nhục. Vì thế, thực hành
    hạnh nhẫn nhục cũng có nghĩa là phải có sự nuôi
    dưỡng, phát triển của cả 3 yếu tố này ngay trong
    tự thân chúng ta.
    19

    Hoa nhẫn nhục
    Thứ hai, về 3 ý nghĩa được giải thích trong kinh
    Giải thâm mật, nên được xem là những trình tự
    phát triển, những bước tiến tuần tự trong sự thực
    hành hạnh nhẫn nhục. Và như thế, ở mức độ cao
    sẽ bao gồm cả mức độ thấp hơn trước đó, nhưng
    khi thực hành một mức độ thấp thì không nhất
    thiết ta phải hiểu và thực hành được cả những
    yêu cầu của mức độ cao hơn. Tuy nhiên, thực tế
    cho thấy là hai mức độ đầu tiên có nhiều sự gần
    gũi hơn, và hầu hết chúng ta đều có thể bắt tay
    thực hành ngay nếu có sự cố gắng, trong khi mức
    độ thứ ba lại là một sự hoàn thiện rốt ráo của cả
    hai mức độ trước đó, và đòi hỏi một quá trình tu
    tập dài lâu trước khi có thể thực sự hiểu và hành
    trì được ở mức độ cuối cùng này.
    Để thấy rõ hơn nhận xét này, trong những
    trang sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu qua
    cả 3 ý nghĩa của hạnh nhẫn nhục vừa được nói
    trên: nhẫn nhục đối với những tổn hại do người
    khác gây ra, nhẫn nhục trong những hoàn cảnh
    khổ đau, và thấu triệt bản chất của mọi sự việc để
    có thể nhẫn nhục với tất cả.
    20

    Kẻ thù ta đâu phải là người...

    M

    ột trong những cách ứng xử thông
    thường, thậm chí được cho là khôn
    ngoan trong cuộc sống, là chúng ta cần phải biết
    “ăn miếng trả miếng”. Mà nói theo một cách văn
    hoa hơn là “ân đền, oán trả”. Tuy nói là “ân đền,
    oán trả”, nhưng thường thì người ta chỉ quan tâm
    nhiều đến việc “trả oán” hơn là “đền ân”. Vì vậy
    mà ý nghĩa của cả hai “phương châm” trên trong
    thực tế cũng chẳng khác gì nhau.
    Nhưng cách ứng xử như trên thật ra không
    phải là cách ứng xử khôn ngoan, bởi vì trong thực
    tế nó chỉ mang lại thêm những khổ đau chứ không
    phải là niềm vui và sự thanh thản. Trong cuộc
    sống, những thương tổn khi tiếp xúc, va chạm với
    21

    Hoa nhẫn nhục
    người khác là điều gần như không thể tránh khỏi.
    Những thiệt hại về vật chất, thương tích trên
    thân thể hoặc tổn thương về tình cảm luôn có thể
    xảy ra trong những mối quan hệ hằng ngày. Chỉ
    cần một chút sơ ý trên đường phố đông đúc, một
    người nào đó có thể sẽ va quẹt làm ta bị thương...
    Chỉ cần một câu nói thiếu tế nhị, một người đồng
    nghiệp có thể xúc phạm đến lòng tự trọng của ta.
    Chỉ cần một sự thất hứa do những nguyên nhân
    nhất định nào đó, một đối tác có thể gây thiệt hại
    cho việc làm ăn, buôn bán của chúng ta...
    Một số tổn thương có thể là do đối phương cố ý
    gây ra, nhưng phần lớn lại rất có thể chỉ do sự vô
    tình hay do hoàn cảnh bắt buộc. Dù vậy, sự phân
    biệt cần thiết này thường không dễ thực hiện một
    cách khách quan, và trong đa số trường hợp thì
    chúng ta hầu như rất dễ có khuynh hướng quy kết
    sự việc về cho những nguyên nhân cố ý. Và như
    vậy, thay vì để cho vấn đề tự nó qua đi, chúng ta
    lại đặt ra cho mình một “nhiệm vụ” phải đáp trả
    hành vi của đối phương theo cách “bánh sáp trao
    đi, bánh chì đáp lại”.
    22

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    Chính khuynh hướng rất thông thường này
    lại là một trong những nguyên nhân chính làm
    cho sự việc trở nên tồi tệ hơn. Sự thật là, dù cho
    những tổn thương đã xảy ra không thể thay đổi,
    nhưng những thương tổn tiếp theo sau đó lại hoàn
    toàn có thể tránh được nhờ vào quan điểm và cách
    ứng xử sáng suốt hơn của mỗi chúng ta.
    Bởi vì không ai trong chúng ta muốn bị người
    khác xúc phạm hoặc gây thương tổn, nên phần
    lớn những phản ứng đáp trả của chúng ta hầu
    như chỉ có thể làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng
    hơn nữa. Sự tổn thương của người khác không bao
    giờ có thể làm mất đi những tổn thương mà ta
    đã gánh chịu theo cách “một trừ một”. Ngược lại,
    trong thực tế thì bao giờ đây cũng là một phép
    toán cộng! Sự tổn thương của cả hai bên khi cộng
    lại chắc chắn sẽ làm cho tình trạng càng trở nên
    xấu hơn. Và nếu mỗi chúng ta không kiềm chế
    được lòng sân hận thì sự việc lại càng rất dễ tiến
    triển theo cấp số nhân!
    Khi chúng ta có thể giữ được sự bình tĩnh và
    sáng suốt cần thiết để xem xét vấn đề, chúng ta sẽ
    23

    Hoa nhẫn nhục
    thấy rằng thật ra luôn có hai yếu tố cần phân biệt
    rõ trong mỗi một trường hợp gây thương tổn. Đó
    là hành vi gây tổn thương và bản thân con người
    thực hiện hành vi đó.
    Trong cách nghĩ thông thường, chúng ta luôn
    gắn liền hai yếu tố vừa nêu. Người làm việc xấu
    tất nhiên là người xấu, và hầu hết chúng ta đều
    nghĩ như vậy. Nhưng nếu phân tích kỹ vấn đề,
    chúng ta sẽ thấy cách suy nghĩ tưởng chừng như
    đơn giản và hoàn toàn chính xác này lại là một
    kết luận không hợp lý chút nào!
    Thứ nhất, dù có cường điệu hóa vấn đề đến đâu
    đi chăng nữa thì cũng không có bất cứ con người
    nào chỉ làm toàn những việc xấu! Ngay trong
    cùng một thời điểm, một người có thể làm những
    việc bị xem là rất xấu đối với ta nhưng lại cũng có
    những việc tốt không thể phủ nhận đối với người
    khác. Còn trong hầu hết những trường hợp đời
    thường thì điều này càng rất dễ nhận ra. Nếu có
    một người đang làm ta giận dữ, hãy thử nhớ lại
    và xem xét hành vi của anh ta trước khi xảy ra sự
    việc ấy. Nếu có thể giữ được sự bình tĩnh và khách
    24

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    quan, chắc chắn ta sẽ thấy rằng trước đây người
    ấy không hề “đáng ghét” như hiện nay. Vì thế, xét
    cho cùng thì ta đang giận tức sự việc mà anh ta
    vừa mới làm chứ không phải bản thân con người
    anh ta. Nói một cách khác, hành vi xấu là một yếu
    tố cần điều chỉnh, nhưng bản chất con người vốn
    không nghiêng về sự xấu ác. Chỉ cần điều chỉnh
    được những hành vi xấu thì cách nhìn của ta đối
    với một con người lập tức sẽ thay đổi khác đi. Điều
    đó cho thấy rằng việc chúng ta thù ghét một con
    người vì những việc xấu họ đã làm là một khuynh
    hướng hoàn toàn sai lầm!
    Thứ hai, tất cả những con người quanh ta đều
    có những mối liên hệ nhất định góp phần vào
    sự tồn tại của chính bản thân ta. Nói cách khác,
    chúng ta không thể tồn tại trong một môi trường
    không có con người. Vì thế, dù trực tiếp hay gián
    tiếp thì chúng ta vẫn đang chịu ơn người khác về
    sự tồn tại của mình trong đời sống. Chúng ta có
    cơm ăn, áo mặc, mọi tiện nghi đời sống, cho đến
    đường phố sạch đẹp, an toàn, nơi mua sắm thuận
    lợi, phương tiện truyền thông liên lạc... cũng như
    25

    Hoa nhẫn nhục
    vô số những dịch vụ tiện ích khác, tất cả những
    thứ ấy không chỉ hoàn toàn do thiên nhiên ban
    tặng mà chính là nhờ có sự lao động miệt mài, cần
    mẫn đóng góp công sức của biết bao người, trong
    đó có cả con người mà ta đang giận ghét vì một
    hành vi nhất định nào đó đã gây hại cho ta.
    Nếu chúng ta xét trong bối cảnh này thì sẽ
    thấy hành vi sai trái - nếu có - của người kia chỉ
    là một sự nhất thời, trong khi cả cuộc đời người
    ấy là một sự gắn bó với sự tồn tại của ta, và điều
    tất nhiên là một phần nhất định trong cuộc sống
    của chúng ta có chịu ơn người ấy. Trong mối tương
    quan này, việc đồng nhất một hành vi xấu với bản
    thân người thực hiện hành vi ấy rõ ràng là không
    hợp lý; và do đó sự giận ghét của ta cũng là không
    hợp lý.
    Khi tôi còn nhỏ, tôi có được nghe và vẫn còn
    nhớ lời của một ca khúc khá phổ biến vào thời đó:
    “Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì
    ta ở với ai...” Trong một chừng mực nào đó, tôi
    nghĩ tác giả ca khúc này đã có suy nghĩ hoàn toàn
    tương đồng với những gì mà chúng ta vừa trao
    26

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    đổi. Đó là một cách nhìn nhận hợp lý mà chúng ta
    rất nên ghi nhớ. Hành vi gây tổn thương và bản
    thân con người thực hiện hành vi đó là hai yếu
    tố khác nhau. Chúng ta không nên vì hành vi sai
    trái của một con người mà giận ghét con người đó.
    Điều này có vẻ như đi ngược lại khuynh hướng
    suy nghĩ thông thường của rất nhiều người. Nhưng
    thực tế là tất cả những nền giáo dục và tín ngưỡng
    xưa nay của nhân loại đều đặt trên một nền tảng
    nhận thức như vậy.
    Nho giáo từ lâu vẫn tin rằng “Con người sinh
    ra vốn tính hiền thiện.”1 Vì thế, những thói hư tật
    xấu chỉ là sự tích lũy, thâm nhiễm lâu ngày trong
    cuộc sống. Chỉ cần chịu học hỏi để nhận biết và
    loại trừ những thói hư tật xấu thì con người sẽ trở
    lại hiền thiện, sẽ trở thành người tốt. Và nếu vậy
    thì sự thù ghét một con người vì những việc xấu
    họ đã làm quả là điều vô lý. Chính trong ý nghĩa
    này mà khi thầy Tử Cống hỏi xin một lời dạy để có
    thể theo đó mà thực hành trọn đời thì đức Khổng
    1

    Nguyên văn chữ Hán: Nhân chi sơ, tính bản thiện. (人之初性

    本善。)

    27

    Hoa nhẫn nhục
    Tử đã dạy rằng: đó là sự khoan thứ.1 Khoan dung,
    tha thứ cho người khác chính là không giận ghét
    họ vì việc xấu mà họ đã làm.
    Kinh Thánh cũng dạy rằng hãy mở rộng lòng
    bác ái, yêu thương cả những kẻ thù của mình.
    Chúng ta chỉ thù ghét một người khi gắn liền
    những hành vi gây hại với bản thân người ấy. Vì
    thế, nếu ta biết tách rời hai yếu tố con người và sự
    việc thì ta sẽ chẳng bao giờ có kẻ thù! Việc khuyến
    khích tất cả mọi người mở rộng lòng yêu thương
    tất cả chính là dựa trên cách nhận thức này.
    Tất cả các hệ thống giáo dục khác nhau cũng
    đều hướng đến sự cải hóa những con người có
    hành vi xấu chứ không bao giờ xem họ mãi mãi
    là thành phần cách ly của xã hội. Điều này cũng
    là dựa trên nhận thức rằng bản chất con người là
    hiền thiện, và qua sự giáo dục chuyển hóa, loại
    bỏ các yếu tố xấu thì bất cứ con người nào cũng
    sẽ trở lại bản chất hiền thiện của mình. Ngay cả
    Nguyên văn chữ Hán: Tử Cống vấn viết: “Hữu nhất ngôn nhi khả
    chung thân hành chi giả hồ.” Tử viết: “Kỳ thứ hồ!...”
    (子貢問曰︰有一言而可終身行之者乎?子曰︰其恕乎。)
    1

    28

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    hệ thống pháp luật cũng luôn ưu tiên sử dụng các
    biện pháp giáo dục, cải hóa trước khi buộc phải áp
    dụng hình phạt.
    Đạo Phật còn tiến xa hơn một bước nữa khi cho
    rằng tất cả chúng sinh đều có tánh Phật. Điều đó
    có nghĩa là, mỗi con người không chỉ có bản chất
    hiền thiện, mà còn sẵn có cả tiềm năng quý giá có
    thể tu tập để giác ngộ, thành Phật. Khi nhận thức
    theo cách này, sự khiêm hạ của mỗi cá nhân sẽ
    được phát triển và sự tôn kính đối với mọi người
    quanh ta sẽ trở nên chân thành hơn. Điều đó giúp
    ta dễ dàng hơn trong việc loại bỏ những tâm niệm
    giận tức hoặc căm ghét đối với những ai có hành
    vi gây hại cho mình.
    Đã có người hiểu theo cách ngược lại với nhận
    xét như tôi vừa nêu trên. Họ cho rằng, khi tự
    tin rằng bản thân mình sẵn có tánh Phật, có thể
    thành Phật, con người sẽ trở nên tự cao, ngã mạn,
    đánh mất đi sự cung kính đối với chư Phật, Bồ
    Tát. Tôi không tin vào cách nghĩ này. Vì chẳng ai
    lại có thể sinh ra tự cao vì một cương vị mà mình
    29

    Hoa nhẫn nhục
    thật ra chưa có được! “Có thể thành Phật” hoàn
    toàn khác với việc “đã thành Phật”, vì điều đó còn
    phụ thuộc vào công phu tu tập dài lâu của chúng
    ta.
    Trong thực tế, một khi bạn tự nhận mình có
    xuất thân là con nhà trí thức chẳng hạn, điều đó
    chắc chắn sẽ khiến cho bạn phải học cách ứng xử
    tốt hơn, thận trọng hơn và phù hợp hơn với vị thế
    ấy. Còn việc bạn có thực sự trở thành một người
    trong tầng lớp trí thức hay không, điều đó còn tùy
    thuộc vào nỗ lực học tập và rèn luyện lâu dài của
    bạn.
    Tương tự như vậy, nếu tin rằng mình có tánh
    Phật, chắc chắn bạn sẽ phải học theo cung cách
    của một vị Phật, nghĩa là phải biết hành xử theo
    những lời Phật dạy. Điều đó hoàn toàn khác biệt
    với việc bạn tự nghĩ rằng mình là một vị Phật, vì
    nếu bạn thực sự nghĩ như thế thì chắc chắn đó
    30

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    chỉ là một điều hoang tưởng. Và chỉ có sự hoang
    tưởng như vậy mới có thể khiến cho người ta trở
    nên kiêu mạn, tự cao, mất đi sự cung kính đối với
    chư Phật, Bồ Tát.
    Nói tóm lại, khuynh hướng tức giận của chúng
    ta khi bị ai đó làm hại thật ra chỉ là một quán
    tính sai lầm, thiếu sự phân tích khách quan và
    hợp lý. Chúng ta hoàn toàn có thể và cần phải
    điều chỉnh những hành vi sai trái gây tổn hại đến
    người khác, cần phải hết sức ngăn ngừa không để
    cho những hành vi như thế lặp lại trong tương lai,
    nhưng hoàn toàn không nên vì những hành vi sai
    trái đó mà tức giận hoặc ghét bỏ con người đã thực
    hiện những hành vi đó.
    Chính ở nơi đây mà tinh thần nhẫn nhục được
    nhận ra, khi chúng ta nhớ lại những yếu tố cấu
    thành hạnh nhẫn nhục: không giận tức, không
    kết thành thù oán và không có ác ý.
    31

    Hoa nhẫn nhục
    Khi sự tổn hại mà ai đó gây ra cho ta là có thật,
    với tinh thần nhẫn nhục, ta chấp nhận sự tổn hại
    đó mà không bực tức khó chịu, vì thật ra thì sự
    bực tức khó chịu đó cũng chẳng thay đổi được gì
    mà chỉ làm cho ta càng cảm thấy khó chịu đựng
    hơn đối với những hậu quả xấu vốn đã xảy ra.
    Và vì hiểu rằng hành vi với con người thực hiện
    hành vi là hai yếu tố khác nhau nên ta sẵn lòng
    góp ý xây dựng hoặc phê phán hành vi sai trái đó,
    nhưng không giận tức hay ghét bỏ con người đã
    thực hiện hành vi ấy. Vì không giận tức nên ta sẽ
    không làm bất cứ điều gì gây tổn hại cho người ấy,
    và vì thế mà không kết thành thù oán. Vì không
    giận tức và không kết thành thù oán nên cũng
    không có điều kiện để nảy sinh những tư tưởng
    xấu ác.
    Khi ta thực hiện theo đúng tinh thần như thế,
    đó là ta đã thành tựu được hạnh nhẫn nhục ở mức
    độ đầu tiên, mức độ mà trong kinh Giải thâm mật
    gọi là “nại oán hại nhẫn”.
    32

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    Khi chúng ta so sánh với cách hiểu thông
    thường thì sự nhịn nhục, chịu đựng những hành
    vi gây hại của kẻ khác chưa hẳn đã là nhẫn nhục.
    Trong thời lập quốc của nhà Hán ở Trung Hoa, vị
    tướng tài giỏi nhất của Lưu Bang là Hàn Tín vẫn
    thường được nhắc đến với câu chuyện “chịu nhục
    luồn trôn”. Thuở hàn vi, Hàn Tín chưa được ai
    biết đến tài năng của mình nên phải mưu sinh vất
    vả, nhưng lúc nào cũng đeo bên mình một thanh
    gươm. Một hôm, có tên bán thịt hung hăng chặn
    ông ở giữa chợ và nói rằng: “Mày có tài cán gì mà
    lúc nào cũng đeo gươm bên người như tướng soái.
    Có giỏi thì đâm chết tao đi, bằng không thì phải
    chui qua dưới trôn tao.” Mọi người trong chợ đổ xô
    đến xem. Hàn Tín suy nghĩ một lát rồi lẳng lặng
    cúi xuống chui qua trôn tên hàng thịt.
    Hàn Tín vì không muốn thí mạng với một kẻ
    tầm thường thô bạo, muốn giữ lại thân mình để
    nuôi chí lớn về sau nên sẵn sàng nhẫn chịu cái
    nhục luồn trôn giữa chợ. Nhưng sự nhẫn chịu của
    ông chưa đủ để gọi là nhẫn nhục. Nếu trong khi
    chấp nhận sự tổn thương tinh thần như thế mà
    33

    Hoa nhẫn nhục
    ông vẫn không sinh lòng oán giận tên hàng thịt
    thì đó mới thực sự là hạnh nhẫn nhục.
    Điều này nói thì dễ mà làm thì khó. Trong cuộc
    sống, nhiều khi ta vẫn phải cắn răng nhịn nhục,
    chịu đựng sự tổn hại do người khác gây ra vì nhiều
    lý do khác nhau. Vì kẻ gây hại cho ta là người
    đang giữ thế mạnh, như trường hợp những nhân
    viên phải chấp nhận chịu đựng sự vô lý hoặc trái
    tính của cấp trên, vì họ sợ rằng nếu phản đối sẽ
    dẫn đến những tổn hại lớn hơn. Cũng có thể vì ta
    muốn chấp nhận một sự tổn hại nhỏ để có thể đạt
    đến một lợi ích lớn hơn, như trường hợp một người
    chủ thuê chấp nhận chịu đựng, nhẫn nhịn đối với
    những yêu cầu thái quá của một nhân viên, vì
    muốn giữ anh ta lại để sử dụng vào những công
    việc mang lại lợi ích lớn hơn cho ông ta. Người ta
    cũng có thể nhịn nhục chịu đựng vì sự hèn nhát,
    vì kém hiểu biết, hoặc chỉ đơn giản là vì muốn
    được yên ổn... Nhưng tất cả những sự nhẫn chịu
    như thế đều không phải là hạnh nhẫn nhục, vì
    nó không bao hàm đủ những yếu tố như chúng ta
    vừa nêu.
    34

    Kẻ thù ta đâu phải là người
    Sự khác biệt cần nói ở đây là, trong khi hạnh
    nhẫn nhục là một tinh thần tích cực giúp ta thăng
    hoa đời sống, thì những thái độ nhịn nhục, chịu
    đựng như trên lại chỉ có thể làm cho tinh thần
    chúng ta ngày càng suy thoái, bạc nhược hơn,...
     
    Gửi ý kiến

    Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học dân. Hồ Chí Minh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPTĐỊNH HOÁ - THÁI NGUYÊN !