Định hướng nghề nghiệp 4.0
Hoa Nhẫn Nhục

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:04' 20-03-2024
Dung lượng: 638.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:04' 20-03-2024
Dung lượng: 638.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HOA NHẪN NHỤC
Tác giả: Nguyên Minh
Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác
giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự
cho phép bằng văn bản của chúng tôi.
GPXB số 493-2007/CXB/04-176/TG
QĐXB số 307/QĐ-TG
In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh
416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt
Nam
Published by arrangement between Huong Trang Cultural
Company Ltd. and the author.
All rights reserved. No part of this book may be reproduced by
any means without prior written permission from the publisher.
NGUYÊN MINH
Tủ sách rộng mở tâm hồn
HOA
NHẪN NHỤC
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
LỜI NÓI ĐẦU
C
uộc sống quanh ta luôn có biết bao điều
trái ý. Trong đời sống vật chất cũng như
tinh thần, mỗi một sự việc xảy đến cho ta đều phụ
thuộc vào vô số những nguyên nhân đến từ bên
ngoài, và rất nhiều trong số những nguyên nhân
ấy lại chẳng bao giờ nằm trong tầm kiểm soát của
chúng ta. Vì thế, chúng ta không bao giờ có thể
nói chắc được rằng một sự việc nào đó rồi có diễn
ra theo đúng ý muốn của mình hay không. Hơn
thế nữa, khả năng bất như ý lại dường như luôn
chiếm một tỷ lệ lớn hơn nhiều so với những trường
hợp xuôi chèo mát mái.
Nhưng có một vấn đề mà có lẽ chúng ta ai cũng
phải thừa nhận là, trong hầu hết các trường hợp
trái ý thì những thương tổn về mặt vật chất đối với
ta thường không quan trọng bằng sự tổn thương
5
Hoa nhẫn nhục
về mặt tinh thần, tình cảm. Khi bạn hỏng thi vào
đại học chẳng hạn, vấn đề quan trọng hơn đối với
bạn không phải là việc phải mất thêm một năm
học lại, mà chính là những áp lực tâm lý nặng nề
trước sự thất vọng của gia đình và những mặc
cảm thua kém bè bạn. Chính những trạng thái
tinh thần tiêu cực này mới là nguyên nhân chính
yếu dẫn đến sự khổ đau, dằn vặt trong những
trường hợp trái ý mà chúng ta gặp phải. Và cũng
chính những hệ quả tinh thần này mới tồn tại lâu
dài, đeo bám chúng ta một cách dai dẳng, ngay cả
khi mọi hệ quả về mặt vật chất có thể đã được giải
quyết xong.
Hầu hết những quy luật tự nhiên quanh ta
cũng diễn ra theo hướng ngược lại với lòng mong
muốn. Không ai muốn chết đi, nhưng rồi mọi
người đều phải chết. Ai cũng muốn được mãi mãi
trẻ đẹp, tráng kiện, nhưng rồi mọi người ai cũng
phải già yếu đi. Ai cũng muốn được khỏe mạnh,
nhưng rồi mọi người không ai thoát khỏi bệnh tật.
Không ai muốn bị chia cách vĩnh viễn với những
người thân yêu, nhưng rồi theo thời gian những
6
Lời nói đầu
người thân quanh ta cứ lần lượt ra đi mãi mãi...
Tất cả những điều ấy đều là nguyên nhân dẫn
đến những tâm trạng khổ đau trong đời sống.
Đạo Phật nhìn nhận sự thật này ở một tầm vóc
lớn lao và toàn diện hơn nhiều so với những gì mà
chúng ta thường gặp phải và nhận biết trong từng
giai đoạn của đời sống. Mỗi người chúng ta thường
chỉ nhận biết được một số những khía cạnh nhất
định nào đó mà chúng ta cho là khổ đau, và vẫn
không ngừng đắm say trong vô số những niềm vui
nhỏ nhặt, những sự đam mê không tồn tại dài
lâu mà chúng ta lại cho là ý nghĩa của đời sống...
Nhưng từ xa xưa đức Phật đã nhìn thấy rõ bản
chất thực sự của đời sống vốn hoàn toàn không
giống như hầu hết chúng ta lầm tưởng. Ngài dạy
rằng: Toàn bộ đời sống của chúng ta, hay nói rộng
hơn là toàn bộ đời sống của mọi chúng sinh trong
cõi thế giới mà ta đang sống, đều được cấu thành
bởi vô số sự chịu đựng những điều bất như ý,
những nguyên nhân dẫn đến khổ đau.
Và vì thế, đức Phật đã gọi tên thế giới này là
thế giới Ta-bà. Danh từ này được phiên âm từ
7
Hoa nhẫn nhục
tiếng Phạn Sahā, có nghĩa là “kham nhẫn”, và
được người Trung Hoa dịch là Nhẫn độ: thế giới
của sự nhẫn chịu.
Mặc dù vậy, cách nhìn nhận này hoàn toàn
không mang ý nghĩa bi quan, cam chịu như nhiều
người thường lầm tưởng. Đây chỉ là một cách nhìn
nhận khách quan và thực tiễn, chỉ ra một sự thật
mà không ai có thể phủ nhận được. Và tự thân
của một nhận thức như vậy không thể hàm chứa
ý nghĩa bi quan hay lạc quan. Vấn đề là chúng ta
chọn cách ứng xử, đối phó với hoàn cảnh theo cách
như thế nào, điều đó mới nói lên ý nghĩa tích cực
hay tiêu cực trong quan điểm sống của mỗi người.
Và một trong những phương pháp đối trị tích cực
với những khổ đau trong đời sống này đã được đức
Phật chỉ dạy từ cách đây hơn 25 thế kỷ chính là
việc tu tập, thực hành hạnh nhẫn nhục.
Nói đến nhẫn nhục, nhiều người thường nghĩ
ngay đến thái độ chịu đựng, chấp nhận một tình
huống trái ý nào đó mà không phản kháng, hoặc
thậm chí là không tránh né. Một số người khác
hiểu nhẫn nhục một cách nôm na là nhịn nhục,
8
Lời nói đầu
chấp nhận bỏ qua những sự xúc phạm hoặc khiêu
khích của người khác đối với mình mà không
phản ứng đáp trả hoặc bực tức. Những cách hiểu
như vậy thật ra cũng không hoàn toàn là sai trái,
và trong rất nhiều trường hợp cũng có thể được
xem là cách chọn lựa sáng suốt trong ứng xử, giúp
chúng ta tránh được nhiều sự tranh chấp, đối đầu
không cần thiết. Tuy nhiên, như đã nói, khái niệm
nhẫn nhục vốn là một thuật ngữ xuất phát từ kinh
điển Phật giáo, và do đó nó mang một số những
nét nghĩa đặc biệt rộng hơn nhiều so với khi được
dùng trong ngôn ngữ thông thường. Và thật ra,
chỉ khi được hiểu đúng và đầy đủ như trong tinh
thần Phật giáo thì nhẫn nhục mới thực sự là một
phẩm chất tích cực, một đức tính cao cả, và mới có
thể phát huy tối đa những công năng chuyển hóa
và hàn gắn mọi khổ đau trong đời sống.
Chúng ta không có một danh từ tiếng Việt nào
tương đương để có thể diễn đạt được trọn vẹn ý
nghĩa của danh từ Kṣānti (Sàn-đề) trong tiếng
Phạn (Sanskrit). Các nhà dịch kinh Trung Hoa
xưa kia đã dùng hai chữ 忍辱 (nhẫn nhục) để
9
Hoa nhẫn nhục
chuyển dịch, nhưng đồng thời họ cũng phải giảng
giải mở rộng thêm ý nghĩa của danh từ này hơn
nhiều so với cách hiểu thông thường. Do có sự
lúng túng này, đôi khi họ cũng thay bằng những
danh từ khác như 安忍 (an nhẫn), 忍耐 (nhẫn nại),
hoặc trong nhiều trường hợp khác chỉ dùng riêng
một chữ 忍 (nhẫn) mà thôi. Người Việt chúng ta
đã mượn trực tiếp danh từ 忍辱 từ chữ Hán và
đọc theo âm Hán-Việt là nhẫn nhục. Danh từ này
đã trở thành quen thuộc với hầu hết người Việt,
nhưng điều đó không có nghĩa là ai cũng có thể
hiểu được nó theo đúng ý nghĩa được dùng khi
muốn diễn đạt khái niệm Kṣānti trong tiếng Phạn.
Thông thường, nhẫn được hiểu là nhịn, và cách
hiểu như vậy là rất giới hạn nếu không muốn nói
là quá hẹp.
Nhưng chúng ta sẽ tạm dừng ở đây mà không
đi sâu vào sự rối rắm của từ ngữ, vì xét cho cùng
thì tất cả mọi khái niệm cũng đều có những giới
hạn nhất định của nó. Vấn đề mà chúng ta sẽ
bàn đến trong tập sách này là những cách hiểu
và thực hành đúng đắn hạnh nhẫn nhục theo lời
10
Lời nói đầu
Phật dạy. Có thể sẽ có những khác biệt nhất định
so với cách hiểu thông thường của đa số chúng ta
trong đời thường, nhưng tôi tin rằng những khác
biệt ấy là cần thiết phải nêu ra để có thể đạt đến
những lợi ích thiết thực và lớn lao trong sự thực
hành.
Tên gọi bao giờ cũng chỉ là tên gọi, và vì thế
đó không phải là điều chúng ta cần chú ý. Vấn đề
quan trọng nhất bao giờ cũng chính là những kết
quả có được từ sự hiểu biết và thực hành. Mọi sự
thuyết giảng, lý giải, cho dù có tỏ ra uyên bác đến
đâu, cầu kỳ hoa mỹ đến đâu, nhưng nếu không
giúp gì được cho sự thực hành trong cuộc sống thì
chắc chắn cũng không thể mang lại chút lợi ích
thực tiễn nào. Điều đó cũng tương tự như những
bông hoa bằng vải hoặc bằng nhựa được bày bán
rất hấp dẫn trong các cửa hàng. Chúng chỉ có thể
để dùng vào mục đích trang trí, chưng bày, và cho
dù bạn có cất công chờ đợi bao lâu đi chăng nữa
cũng chẳng bao giờ có thể nhìn thấy chúng kết
quả, tạo hạt!
Những bông hoa quý giá và thực sự có ích là
những bông hoa có thể tỏa hương thơm, phô bày
11
Hoa nhẫn nhục
vẻ đẹp, nhưng đồng thời cũng có thể kết quả, tạo
hạt, nghĩa là mang đến cho chúng ta những lợi
ích thiết thực và lớn lao. Hạnh nhẫn nhục mà tôi
muốn trình bày với bạn đọc trong tập sách này
là một bông hoa như thế, với tất cả những vẻ
đẹp tinh thần cao quý có khả năng cảm phục và
chuyển hóa mọi người quanh ta, với tất cả những
hương thơm đức hạnh mà bất cứ ai khi tiếp xúc
cũng đều phải mến mộ, kính ngưỡng, và với tất cả
hạt giống lành được kết tụ sẽ luôn mang lại cho
chúng ta vô số những lợi ích lớn lao trong đời sống
hôm nay và mai sau. Vì tất cả những phẩm chất
cao cả và tốt đẹp ấy nên tôi muốn gọi tên đó là hoa
nhẫn nhục.
Những gì được trình bày sau đây ngoài những
gì được ghi chép trong kinh điển còn có cả phần
mô tả chủ quan từ cảm nhận của người viết khi
ngắm nhìn đóa hoa nhẫn nhục trong đời sống. Và
như đã nói, người viết chỉ quan tâm đến những gì
thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống,
nên mọi ý tưởng dù cao siêu, sâu sắc đến đâu cũng
cần phải diễn đạt theo cách sao cho mọi người đều
có thể tiếp nhận được. Một sự cố gắng như thế
12
Lời nói đầu
không phải là việc dễ dàng, và chắc chắn không
thể tránh khỏi ít nhiều sự sai sót, lệch lạc. Mong
rằng độc giả sẽ có thể xem những gì trình bày
trong sách này như một sự chia sẻ, trao đổi kinh
nghiệm sống hơn là một sự tỏ bày quan điểm hay
thuyết giảng giáo lý. Vì thế, mọi ý kiến đóng góp,
xây dựng đều sẽ được người viết hoan nghênh và
đón nhận với lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Trong vườn hoa đức hạnh, chúng ta đã nghe
biết nhiều đến những loài hoa quý như hoa từ bi,
hoa trí tuệ... Thật ra, những phẩm chất cao quý
ấy cũng có thể được nhận biết trong loài hoa nhẫn
nhục mà chúng ta sẽ chiêm ngưỡng hôm nay. Vì
thế, một khi ta chịu bỏ công vun xới, gieo trồng một
trong các loài hoa quý, chúng ta sẽ có thể thông
qua đó mà nhận biết được phẩm chất của những
loài hoa khác. Mong sao mỗi người trong chúng
ta đều tự mình gieo trồng và chiêm ngưỡng, nâng
niu những loài hoa quý ấy để có thể cảm nhận
được phẩm chất tuyệt vời mà không một loài hoa
thế gian nào có được, như sự mô tả của kệ ngôn số
54 trong kinh Pháp cú:
13
Hoa nhẫn nhục
Hương các loại hoa thơm,
Không ngược bay chiều gió.
Chỉ hương người đức hạnh,
Ngược gió khắp tung bay.
Hương thơm đức hạnh là loại hương thơm duy
nhất có thể ngược bay chiều gió, lan tỏa khắp
quanh ta; và cũng là loại hương thơm duy hhất
không chỉ mang đến sự thỏa mãn cho khứu giác
mà còn đem lại sự an vui, hạnh phúc cho bản thân
ta cũng như tất cả mọi người. Và một trong những
phương cách để được tận hưởng loại hương thơm
nhiệm mầu kỳ diệu ấy là chúng ta hãy sớm cùng
nhau gieo trồng trong tâm mình loài hoa nhẫn
nhục.
Nhưng trước hết, ngay bây giờ đây, với tất cả
sự trân trọng, thành kính và thân thiết, xin mời
bạn đọc hãy cùng tôi bước vào khu vườn nhỏ để
chiêm ngưỡng loài hoa ấy: loài hoa mang tên Hoa
nhẫn nhục!
Mùa Phật đản 2551 (2007)
Trân trọng,
Nguyên Minh
14
Một câu nhịn, chín câu lành...
T
heo cách hiểu thông thường của đa số
chúng ta, nhẫn nhục có nghĩa là nhịn
nhục, chịu đựng. Tiêu biểu nhất là tinh thần
nhẫn nhục này khi đi vào dân gian đã được người
xưa thể hiện qua câu tục ngữ: “Một câu nhịn, chín
câu lành.” Trong mọi sự mâu thuẫn, xích mích với
người khác, biết nhịn nhục là điều tốt nhất, vì nó
sẽ mang đến mọi sự an ổn thay vì là hiềm khích,
tranh chấp.
Cách hiểu này có thể giúp ta có được một quan
điểm sống ôn hòa hơn, khuyến khích mọi người
cùng cố gắng duy trì sự đoàn kết và hòa khí trong
cộng đồng. Tuy nhiên, dù sao ta cũng có thể thấy
ngay là ở đây chỉ nêu lên một cách rất chung chung.
Trong thực tế, lắm khi có những trường hợp mà
15
Hoa nhẫn nhục
không phải sự nhịn nhục, chịu đựng hay thối lui
bao giờ cũng là giải pháp tốt nhất. Và trong một
chừng mực nào đó, giải pháp “nhịn nhục” còn có
phần tiêu cực vì nó góp phần vào sự tồn tại của
những yếu tố xấu trong cộng đồng.
Sự thật là trong mỗi một tập thể đều có những
phần tử xấu nào đó, bởi vì ngay trong mỗi con
người chúng ta cũng đều tồn tại những yếu tố xấu
nhất định. Sự nhịn nhục có thể là giải pháp tốt
trong một số trường hợp, nhưng khi đối mặt với
những yếu tố xấu thì nó trở thành tiêu cực, vì nó
cản trở sự vươn lên hoàn thiện của bản thân mỗi
người cũng như của cả cộng đồng.
Khi một thành viên có những cung cách ứng xử
sai trái, gây tổn hại đến những thành viên khác
trong cộng đồng, sự nhịn nhục đối với anh ta sẽ là
một quyết định sai lầm, có hại cho mọi người và
cho cả bản thân anh ta. Ngược lại, những phản
ứng thích hợp cần thiết sẽ giúp anh ta có điều
kiện nhận biết và điều chỉnh hành vi không tốt
16
Một câu nhịn chín câu lành
của mình, và điều đó không chỉ giúp ngăn ngừa
những tổn hại cho mọi người mà còn có lợi cho
chính bản thân anh ta, vì nó giúp anh trở thành
một người hoàn thiện hơn.
Vì thế, nếu hiểu nhẫn nhục là nhịn nhục,
chịu đựng, thì cần thiết phải hiểu thêm rằng đó
là sự nhịn nhục, chịu đựng trong những trường
hợp thích hợp. Nói khác đi, cách hiểu như vậy là
còn quá hẹp so với ý nghĩa thực sự của khái niệm
nhẫn nhục.
Vậy nhẫn nhục là gì? Để hiểu được một cách
đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này, điều tất nhiên
là chúng ta phải quay sang tìm hiểu những sự
giảng giải trong kinh luận của Phật giáo, bởi vì
đây là một thuật ngữ Phật giáo được mượn dùng
để dịch từ Kṣānti (Sàn-đề) trong tiếng Phạn.
Trong kinh Phật, hạnh nhẫn nhục được xếp
vào một trong sáu pháp tu gọi là ba-la-mật, nghĩa
là những pháp tu có thể giúp ta đạt đến sự giải
thoát. Kinh Giải thâm mật (解深密經) quyển 4,
giải thích về nhẫn nhục bao gồm 3 ý nghĩa. Một là
nại oán hại nhẫn (耐怨害忍), nghĩa là nhận chịu
17
Hoa nhẫn nhục
những điều tổn hại do người khác gây ra cho mình.
Hai là an thọ khổ nhẫn (安受苦忍), nghĩa là có thể
an nhiên chấp nhận mọi sự đau đớn, khổ não. Và
ba là đế sát pháp nhẫn (諦察法忍), nghĩa là có
thể quan sát, nhận biết đúng bản chất của mọi sự
việc để an nhiên chấp nhận. Thêm vào đó, luận
Du-già sư địa (瑜伽師地論) quyển 51 mô tả hạnh
nhẫn nhục bao gồm ba tính chất: một là không
giận tức, hai là không kết thành thù oán, và ba là
trong lòng không có những ý tưởng xấu ác.1
Kết hợp sự giải thích và mô tả trong 2 bản kinh
luận nêu trên, chúng ta có thể hiểu được rằng
nhẫn nhục không chỉ đơn giản là sự nhịn nhục,
chịu đựng, mà bao hàm một sự nhận thức, hiểu
biết sâu sắc và toàn diện về đối tượng, sự việc, từ
đó mới dẫn đến sự chấp nhận với một tinh thần
từ hòa, không có sự sinh khởi của sân hận và tư
tưởng xấu ác, và vì thế cũng không tạo ra sự thù
hận, oán ghét.
1
Nguyên văn chữ Hán: 忍辱含不忿怒、不結怨、心不懷惡
意... (Nhẫn nhục hàm bất phẫn nộ, bất kết oán, tâm bất hoài ác
ý... )
18
Một câu nhịn chín câu lành
Còn rất nhiều kinh luận khác giảng giải sâu
xa và toàn diện hơn về hạnh nhẫn nhục, vốn được
xem là một trong các pháp tu quan trọng. Tuy
nhiên, trong phạm vi chúng ta đang muốn bàn
đến thì có thể tạm chấp nhận một định nghĩa như
trên là tương đối hoàn chỉnh. Vấn đề ở đây là,
ngay cả một định nghĩa được giới hạn tương đối
như thế cũng có thể đã là phức tạp và khó hiểu
đối với một số người. Vì thế, có lẽ tốt hơn chúng ta
nên nói rộng thêm đôi chút về những điểm chi tiết
trong định nghĩa này.
Trước hết, cả 3 tính chất được mô tả trong bộ
luận Du-già sư địa - không giận tức, không kết
thành thù oán và không có ý tưởng xấu ác - phải
được xem là những yếu tố tất yếu, không thể thiếu
được đối với hạnh nhẫn nhục. Khi thiếu đi một
trong các yếu tố này, cho dù ta có chấp nhận, có
nhịn nhục được đối với bao nhiêu sự việc đi nữa,
thì điều đó cũng hoàn toàn không thể xem là thực
hành được hạnh nhẫn nhục. Vì thế, thực hành
hạnh nhẫn nhục cũng có nghĩa là phải có sự nuôi
dưỡng, phát triển của cả 3 yếu tố này ngay trong
tự thân chúng ta.
19
Hoa nhẫn nhục
Thứ hai, về 3 ý nghĩa được giải thích trong kinh
Giải thâm mật, nên được xem là những trình tự
phát triển, những bước tiến tuần tự trong sự thực
hành hạnh nhẫn nhục. Và như thế, ở mức độ cao
sẽ bao gồm cả mức độ thấp hơn trước đó, nhưng
khi thực hành một mức độ thấp thì không nhất
thiết ta phải hiểu và thực hành được cả những
yêu cầu của mức độ cao hơn. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy là hai mức độ đầu tiên có nhiều sự gần
gũi hơn, và hầu hết chúng ta đều có thể bắt tay
thực hành ngay nếu có sự cố gắng, trong khi mức
độ thứ ba lại là một sự hoàn thiện rốt ráo của cả
hai mức độ trước đó, và đòi hỏi một quá trình tu
tập dài lâu trước khi có thể thực sự hiểu và hành
trì được ở mức độ cuối cùng này.
Để thấy rõ hơn nhận xét này, trong những
trang sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu qua
cả 3 ý nghĩa của hạnh nhẫn nhục vừa được nói
trên: nhẫn nhục đối với những tổn hại do người
khác gây ra, nhẫn nhục trong những hoàn cảnh
khổ đau, và thấu triệt bản chất của mọi sự việc để
có thể nhẫn nhục với tất cả.
20
Kẻ thù ta đâu phải là người...
M
ột trong những cách ứng xử thông
thường, thậm chí được cho là khôn
ngoan trong cuộc sống, là chúng ta cần phải biết
“ăn miếng trả miếng”. Mà nói theo một cách văn
hoa hơn là “ân đền, oán trả”. Tuy nói là “ân đền,
oán trả”, nhưng thường thì người ta chỉ quan tâm
nhiều đến việc “trả oán” hơn là “đền ân”. Vì vậy
mà ý nghĩa của cả hai “phương châm” trên trong
thực tế cũng chẳng khác gì nhau.
Nhưng cách ứng xử như trên thật ra không
phải là cách ứng xử khôn ngoan, bởi vì trong thực
tế nó chỉ mang lại thêm những khổ đau chứ không
phải là niềm vui và sự thanh thản. Trong cuộc
sống, những thương tổn khi tiếp xúc, va chạm với
21
Hoa nhẫn nhục
người khác là điều gần như không thể tránh khỏi.
Những thiệt hại về vật chất, thương tích trên
thân thể hoặc tổn thương về tình cảm luôn có thể
xảy ra trong những mối quan hệ hằng ngày. Chỉ
cần một chút sơ ý trên đường phố đông đúc, một
người nào đó có thể sẽ va quẹt làm ta bị thương...
Chỉ cần một câu nói thiếu tế nhị, một người đồng
nghiệp có thể xúc phạm đến lòng tự trọng của ta.
Chỉ cần một sự thất hứa do những nguyên nhân
nhất định nào đó, một đối tác có thể gây thiệt hại
cho việc làm ăn, buôn bán của chúng ta...
Một số tổn thương có thể là do đối phương cố ý
gây ra, nhưng phần lớn lại rất có thể chỉ do sự vô
tình hay do hoàn cảnh bắt buộc. Dù vậy, sự phân
biệt cần thiết này thường không dễ thực hiện một
cách khách quan, và trong đa số trường hợp thì
chúng ta hầu như rất dễ có khuynh hướng quy kết
sự việc về cho những nguyên nhân cố ý. Và như
vậy, thay vì để cho vấn đề tự nó qua đi, chúng ta
lại đặt ra cho mình một “nhiệm vụ” phải đáp trả
hành vi của đối phương theo cách “bánh sáp trao
đi, bánh chì đáp lại”.
22
Kẻ thù ta đâu phải là người
Chính khuynh hướng rất thông thường này
lại là một trong những nguyên nhân chính làm
cho sự việc trở nên tồi tệ hơn. Sự thật là, dù cho
những tổn thương đã xảy ra không thể thay đổi,
nhưng những thương tổn tiếp theo sau đó lại hoàn
toàn có thể tránh được nhờ vào quan điểm và cách
ứng xử sáng suốt hơn của mỗi chúng ta.
Bởi vì không ai trong chúng ta muốn bị người
khác xúc phạm hoặc gây thương tổn, nên phần
lớn những phản ứng đáp trả của chúng ta hầu
như chỉ có thể làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng
hơn nữa. Sự tổn thương của người khác không bao
giờ có thể làm mất đi những tổn thương mà ta
đã gánh chịu theo cách “một trừ một”. Ngược lại,
trong thực tế thì bao giờ đây cũng là một phép
toán cộng! Sự tổn thương của cả hai bên khi cộng
lại chắc chắn sẽ làm cho tình trạng càng trở nên
xấu hơn. Và nếu mỗi chúng ta không kiềm chế
được lòng sân hận thì sự việc lại càng rất dễ tiến
triển theo cấp số nhân!
Khi chúng ta có thể giữ được sự bình tĩnh và
sáng suốt cần thiết để xem xét vấn đề, chúng ta sẽ
23
Hoa nhẫn nhục
thấy rằng thật ra luôn có hai yếu tố cần phân biệt
rõ trong mỗi một trường hợp gây thương tổn. Đó
là hành vi gây tổn thương và bản thân con người
thực hiện hành vi đó.
Trong cách nghĩ thông thường, chúng ta luôn
gắn liền hai yếu tố vừa nêu. Người làm việc xấu
tất nhiên là người xấu, và hầu hết chúng ta đều
nghĩ như vậy. Nhưng nếu phân tích kỹ vấn đề,
chúng ta sẽ thấy cách suy nghĩ tưởng chừng như
đơn giản và hoàn toàn chính xác này lại là một
kết luận không hợp lý chút nào!
Thứ nhất, dù có cường điệu hóa vấn đề đến đâu
đi chăng nữa thì cũng không có bất cứ con người
nào chỉ làm toàn những việc xấu! Ngay trong
cùng một thời điểm, một người có thể làm những
việc bị xem là rất xấu đối với ta nhưng lại cũng có
những việc tốt không thể phủ nhận đối với người
khác. Còn trong hầu hết những trường hợp đời
thường thì điều này càng rất dễ nhận ra. Nếu có
một người đang làm ta giận dữ, hãy thử nhớ lại
và xem xét hành vi của anh ta trước khi xảy ra sự
việc ấy. Nếu có thể giữ được sự bình tĩnh và khách
24
Kẻ thù ta đâu phải là người
quan, chắc chắn ta sẽ thấy rằng trước đây người
ấy không hề “đáng ghét” như hiện nay. Vì thế, xét
cho cùng thì ta đang giận tức sự việc mà anh ta
vừa mới làm chứ không phải bản thân con người
anh ta. Nói một cách khác, hành vi xấu là một yếu
tố cần điều chỉnh, nhưng bản chất con người vốn
không nghiêng về sự xấu ác. Chỉ cần điều chỉnh
được những hành vi xấu thì cách nhìn của ta đối
với một con người lập tức sẽ thay đổi khác đi. Điều
đó cho thấy rằng việc chúng ta thù ghét một con
người vì những việc xấu họ đã làm là một khuynh
hướng hoàn toàn sai lầm!
Thứ hai, tất cả những con người quanh ta đều
có những mối liên hệ nhất định góp phần vào
sự tồn tại của chính bản thân ta. Nói cách khác,
chúng ta không thể tồn tại trong một môi trường
không có con người. Vì thế, dù trực tiếp hay gián
tiếp thì chúng ta vẫn đang chịu ơn người khác về
sự tồn tại của mình trong đời sống. Chúng ta có
cơm ăn, áo mặc, mọi tiện nghi đời sống, cho đến
đường phố sạch đẹp, an toàn, nơi mua sắm thuận
lợi, phương tiện truyền thông liên lạc... cũng như
25
Hoa nhẫn nhục
vô số những dịch vụ tiện ích khác, tất cả những
thứ ấy không chỉ hoàn toàn do thiên nhiên ban
tặng mà chính là nhờ có sự lao động miệt mài, cần
mẫn đóng góp công sức của biết bao người, trong
đó có cả con người mà ta đang giận ghét vì một
hành vi nhất định nào đó đã gây hại cho ta.
Nếu chúng ta xét trong bối cảnh này thì sẽ
thấy hành vi sai trái - nếu có - của người kia chỉ
là một sự nhất thời, trong khi cả cuộc đời người
ấy là một sự gắn bó với sự tồn tại của ta, và điều
tất nhiên là một phần nhất định trong cuộc sống
của chúng ta có chịu ơn người ấy. Trong mối tương
quan này, việc đồng nhất một hành vi xấu với bản
thân người thực hiện hành vi ấy rõ ràng là không
hợp lý; và do đó sự giận ghét của ta cũng là không
hợp lý.
Khi tôi còn nhỏ, tôi có được nghe và vẫn còn
nhớ lời của một ca khúc khá phổ biến vào thời đó:
“Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì
ta ở với ai...” Trong một chừng mực nào đó, tôi
nghĩ tác giả ca khúc này đã có suy nghĩ hoàn toàn
tương đồng với những gì mà chúng ta vừa trao
26
Kẻ thù ta đâu phải là người
đổi. Đó là một cách nhìn nhận hợp lý mà chúng ta
rất nên ghi nhớ. Hành vi gây tổn thương và bản
thân con người thực hiện hành vi đó là hai yếu
tố khác nhau. Chúng ta không nên vì hành vi sai
trái của một con người mà giận ghét con người đó.
Điều này có vẻ như đi ngược lại khuynh hướng
suy nghĩ thông thường của rất nhiều người. Nhưng
thực tế là tất cả những nền giáo dục và tín ngưỡng
xưa nay của nhân loại đều đặt trên một nền tảng
nhận thức như vậy.
Nho giáo từ lâu vẫn tin rằng “Con người sinh
ra vốn tính hiền thiện.”1 Vì thế, những thói hư tật
xấu chỉ là sự tích lũy, thâm nhiễm lâu ngày trong
cuộc sống. Chỉ cần chịu học hỏi để nhận biết và
loại trừ những thói hư tật xấu thì con người sẽ trở
lại hiền thiện, sẽ trở thành người tốt. Và nếu vậy
thì sự thù ghét một con người vì những việc xấu
họ đã làm quả là điều vô lý. Chính trong ý nghĩa
này mà khi thầy Tử Cống hỏi xin một lời dạy để có
thể theo đó mà thực hành trọn đời thì đức Khổng
1
Nguyên văn chữ Hán: Nhân chi sơ, tính bản thiện. (人之初性
本善。)
27
Hoa nhẫn nhục
Tử đã dạy rằng: đó là sự khoan thứ.1 Khoan dung,
tha thứ cho người khác chính là không giận ghét
họ vì việc xấu mà họ đã làm.
Kinh Thánh cũng dạy rằng hãy mở rộng lòng
bác ái, yêu thương cả những kẻ thù của mình.
Chúng ta chỉ thù ghét một người khi gắn liền
những hành vi gây hại với bản thân người ấy. Vì
thế, nếu ta biết tách rời hai yếu tố con người và sự
việc thì ta sẽ chẳng bao giờ có kẻ thù! Việc khuyến
khích tất cả mọi người mở rộng lòng yêu thương
tất cả chính là dựa trên cách nhận thức này.
Tất cả các hệ thống giáo dục khác nhau cũng
đều hướng đến sự cải hóa những con người có
hành vi xấu chứ không bao giờ xem họ mãi mãi
là thành phần cách ly của xã hội. Điều này cũng
là dựa trên nhận thức rằng bản chất con người là
hiền thiện, và qua sự giáo dục chuyển hóa, loại
bỏ các yếu tố xấu thì bất cứ con người nào cũng
sẽ trở lại bản chất hiền thiện của mình. Ngay cả
Nguyên văn chữ Hán: Tử Cống vấn viết: “Hữu nhất ngôn nhi khả
chung thân hành chi giả hồ.” Tử viết: “Kỳ thứ hồ!...”
(子貢問曰︰有一言而可終身行之者乎?子曰︰其恕乎。)
1
28
Kẻ thù ta đâu phải là người
hệ thống pháp luật cũng luôn ưu tiên sử dụng các
biện pháp giáo dục, cải hóa trước khi buộc phải áp
dụng hình phạt.
Đạo Phật còn tiến xa hơn một bước nữa khi cho
rằng tất cả chúng sinh đều có tánh Phật. Điều đó
có nghĩa là, mỗi con người không chỉ có bản chất
hiền thiện, mà còn sẵn có cả tiềm năng quý giá có
thể tu tập để giác ngộ, thành Phật. Khi nhận thức
theo cách này, sự khiêm hạ của mỗi cá nhân sẽ
được phát triển và sự tôn kính đối với mọi người
quanh ta sẽ trở nên chân thành hơn. Điều đó giúp
ta dễ dàng hơn trong việc loại bỏ những tâm niệm
giận tức hoặc căm ghét đối với những ai có hành
vi gây hại cho mình.
Đã có người hiểu theo cách ngược lại với nhận
xét như tôi vừa nêu trên. Họ cho rằng, khi tự
tin rằng bản thân mình sẵn có tánh Phật, có thể
thành Phật, con người sẽ trở nên tự cao, ngã mạn,
đánh mất đi sự cung kính đối với chư Phật, Bồ
Tát. Tôi không tin vào cách nghĩ này. Vì chẳng ai
lại có thể sinh ra tự cao vì một cương vị mà mình
29
Hoa nhẫn nhục
thật ra chưa có được! “Có thể thành Phật” hoàn
toàn khác với việc “đã thành Phật”, vì điều đó còn
phụ thuộc vào công phu tu tập dài lâu của chúng
ta.
Trong thực tế, một khi bạn tự nhận mình có
xuất thân là con nhà trí thức chẳng hạn, điều đó
chắc chắn sẽ khiến cho bạn phải học cách ứng xử
tốt hơn, thận trọng hơn và phù hợp hơn với vị thế
ấy. Còn việc bạn có thực sự trở thành một người
trong tầng lớp trí thức hay không, điều đó còn tùy
thuộc vào nỗ lực học tập và rèn luyện lâu dài của
bạn.
Tương tự như vậy, nếu tin rằng mình có tánh
Phật, chắc chắn bạn sẽ phải học theo cung cách
của một vị Phật, nghĩa là phải biết hành xử theo
những lời Phật dạy. Điều đó hoàn toàn khác biệt
với việc bạn tự nghĩ rằng mình là một vị Phật, vì
nếu bạn thực sự nghĩ như thế thì chắc chắn đó
30
Kẻ thù ta đâu phải là người
chỉ là một điều hoang tưởng. Và chỉ có sự hoang
tưởng như vậy mới có thể khiến cho người ta trở
nên kiêu mạn, tự cao, mất đi sự cung kính đối với
chư Phật, Bồ Tát.
Nói tóm lại, khuynh hướng tức giận của chúng
ta khi bị ai đó làm hại thật ra chỉ là một quán
tính sai lầm, thiếu sự phân tích khách quan và
hợp lý. Chúng ta hoàn toàn có thể và cần phải
điều chỉnh những hành vi sai trái gây tổn hại đến
người khác, cần phải hết sức ngăn ngừa không để
cho những hành vi như thế lặp lại trong tương lai,
nhưng hoàn toàn không nên vì những hành vi sai
trái đó mà tức giận hoặc ghét bỏ con người đã thực
hiện những hành vi đó.
Chính ở nơi đây mà tinh thần nhẫn nhục được
nhận ra, khi chúng ta nhớ lại những yếu tố cấu
thành hạnh nhẫn nhục: không giận tức, không
kết thành thù oán và không có ác ý.
31
Hoa nhẫn nhục
Khi sự tổn hại mà ai đó gây ra cho ta là có thật,
với tinh thần nhẫn nhục, ta chấp nhận sự tổn hại
đó mà không bực tức khó chịu, vì thật ra thì sự
bực tức khó chịu đó cũng chẳng thay đổi được gì
mà chỉ làm cho ta càng cảm thấy khó chịu đựng
hơn đối với những hậu quả xấu vốn đã xảy ra.
Và vì hiểu rằng hành vi với con người thực hiện
hành vi là hai yếu tố khác nhau nên ta sẵn lòng
góp ý xây dựng hoặc phê phán hành vi sai trái đó,
nhưng không giận tức hay ghét bỏ con người đã
thực hiện hành vi ấy. Vì không giận tức nên ta sẽ
không làm bất cứ điều gì gây tổn hại cho người ấy,
và vì thế mà không kết thành thù oán. Vì không
giận tức và không kết thành thù oán nên cũng
không có điều kiện để nảy sinh những tư tưởng
xấu ác.
Khi ta thực hiện theo đúng tinh thần như thế,
đó là ta đã thành tựu được hạnh nhẫn nhục ở mức
độ đầu tiên, mức độ mà trong kinh Giải thâm mật
gọi là “nại oán hại nhẫn”.
32
Kẻ thù ta đâu phải là người
Khi chúng ta so sánh với cách hiểu thông
thường thì sự nhịn nhục, chịu đựng những hành
vi gây hại của kẻ khác chưa hẳn đã là nhẫn nhục.
Trong thời lập quốc của nhà Hán ở Trung Hoa, vị
tướng tài giỏi nhất của Lưu Bang là Hàn Tín vẫn
thường được nhắc đến với câu chuyện “chịu nhục
luồn trôn”. Thuở hàn vi, Hàn Tín chưa được ai
biết đến tài năng của mình nên phải mưu sinh vất
vả, nhưng lúc nào cũng đeo bên mình một thanh
gươm. Một hôm, có tên bán thịt hung hăng chặn
ông ở giữa chợ và nói rằng: “Mày có tài cán gì mà
lúc nào cũng đeo gươm bên người như tướng soái.
Có giỏi thì đâm chết tao đi, bằng không thì phải
chui qua dưới trôn tao.” Mọi người trong chợ đổ xô
đến xem. Hàn Tín suy nghĩ một lát rồi lẳng lặng
cúi xuống chui qua trôn tên hàng thịt.
Hàn Tín vì không muốn thí mạng với một kẻ
tầm thường thô bạo, muốn giữ lại thân mình để
nuôi chí lớn về sau nên sẵn sàng nhẫn chịu cái
nhục luồn trôn giữa chợ. Nhưng sự nhẫn chịu của
ông chưa đủ để gọi là nhẫn nhục. Nếu trong khi
chấp nhận sự tổn thương tinh thần như thế mà
33
Hoa nhẫn nhục
ông vẫn không sinh lòng oán giận tên hàng thịt
thì đó mới thực sự là hạnh nhẫn nhục.
Điều này nói thì dễ mà làm thì khó. Trong cuộc
sống, nhiều khi ta vẫn phải cắn răng nhịn nhục,
chịu đựng sự tổn hại do người khác gây ra vì nhiều
lý do khác nhau. Vì kẻ gây hại cho ta là người
đang giữ thế mạnh, như trường hợp những nhân
viên phải chấp nhận chịu đựng sự vô lý hoặc trái
tính của cấp trên, vì họ sợ rằng nếu phản đối sẽ
dẫn đến những tổn hại lớn hơn. Cũng có thể vì ta
muốn chấp nhận một sự tổn hại nhỏ để có thể đạt
đến một lợi ích lớn hơn, như trường hợp một người
chủ thuê chấp nhận chịu đựng, nhẫn nhịn đối với
những yêu cầu thái quá của một nhân viên, vì
muốn giữ anh ta lại để sử dụng vào những công
việc mang lại lợi ích lớn hơn cho ông ta. Người ta
cũng có thể nhịn nhục chịu đựng vì sự hèn nhát,
vì kém hiểu biết, hoặc chỉ đơn giản là vì muốn
được yên ổn... Nhưng tất cả những sự nhẫn chịu
như thế đều không phải là hạnh nhẫn nhục, vì
nó không bao hàm đủ những yếu tố như chúng ta
vừa nêu.
34
Kẻ thù ta đâu phải là người
Sự khác biệt cần nói ở đây là, trong khi hạnh
nhẫn nhục là một tinh thần tích cực giúp ta thăng
hoa đời sống, thì những thái độ nhịn nhục, chịu
đựng như trên lại chỉ có thể làm cho tinh thần
chúng ta ngày càng suy thoái, bạc nhược hơn,...
Tác giả: Nguyên Minh
Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác
giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự
cho phép bằng văn bản của chúng tôi.
GPXB số 493-2007/CXB/04-176/TG
QĐXB số 307/QĐ-TG
In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh
416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt
Nam
Published by arrangement between Huong Trang Cultural
Company Ltd. and the author.
All rights reserved. No part of this book may be reproduced by
any means without prior written permission from the publisher.
NGUYÊN MINH
Tủ sách rộng mở tâm hồn
HOA
NHẪN NHỤC
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
LỜI NÓI ĐẦU
C
uộc sống quanh ta luôn có biết bao điều
trái ý. Trong đời sống vật chất cũng như
tinh thần, mỗi một sự việc xảy đến cho ta đều phụ
thuộc vào vô số những nguyên nhân đến từ bên
ngoài, và rất nhiều trong số những nguyên nhân
ấy lại chẳng bao giờ nằm trong tầm kiểm soát của
chúng ta. Vì thế, chúng ta không bao giờ có thể
nói chắc được rằng một sự việc nào đó rồi có diễn
ra theo đúng ý muốn của mình hay không. Hơn
thế nữa, khả năng bất như ý lại dường như luôn
chiếm một tỷ lệ lớn hơn nhiều so với những trường
hợp xuôi chèo mát mái.
Nhưng có một vấn đề mà có lẽ chúng ta ai cũng
phải thừa nhận là, trong hầu hết các trường hợp
trái ý thì những thương tổn về mặt vật chất đối với
ta thường không quan trọng bằng sự tổn thương
5
Hoa nhẫn nhục
về mặt tinh thần, tình cảm. Khi bạn hỏng thi vào
đại học chẳng hạn, vấn đề quan trọng hơn đối với
bạn không phải là việc phải mất thêm một năm
học lại, mà chính là những áp lực tâm lý nặng nề
trước sự thất vọng của gia đình và những mặc
cảm thua kém bè bạn. Chính những trạng thái
tinh thần tiêu cực này mới là nguyên nhân chính
yếu dẫn đến sự khổ đau, dằn vặt trong những
trường hợp trái ý mà chúng ta gặp phải. Và cũng
chính những hệ quả tinh thần này mới tồn tại lâu
dài, đeo bám chúng ta một cách dai dẳng, ngay cả
khi mọi hệ quả về mặt vật chất có thể đã được giải
quyết xong.
Hầu hết những quy luật tự nhiên quanh ta
cũng diễn ra theo hướng ngược lại với lòng mong
muốn. Không ai muốn chết đi, nhưng rồi mọi
người đều phải chết. Ai cũng muốn được mãi mãi
trẻ đẹp, tráng kiện, nhưng rồi mọi người ai cũng
phải già yếu đi. Ai cũng muốn được khỏe mạnh,
nhưng rồi mọi người không ai thoát khỏi bệnh tật.
Không ai muốn bị chia cách vĩnh viễn với những
người thân yêu, nhưng rồi theo thời gian những
6
Lời nói đầu
người thân quanh ta cứ lần lượt ra đi mãi mãi...
Tất cả những điều ấy đều là nguyên nhân dẫn
đến những tâm trạng khổ đau trong đời sống.
Đạo Phật nhìn nhận sự thật này ở một tầm vóc
lớn lao và toàn diện hơn nhiều so với những gì mà
chúng ta thường gặp phải và nhận biết trong từng
giai đoạn của đời sống. Mỗi người chúng ta thường
chỉ nhận biết được một số những khía cạnh nhất
định nào đó mà chúng ta cho là khổ đau, và vẫn
không ngừng đắm say trong vô số những niềm vui
nhỏ nhặt, những sự đam mê không tồn tại dài
lâu mà chúng ta lại cho là ý nghĩa của đời sống...
Nhưng từ xa xưa đức Phật đã nhìn thấy rõ bản
chất thực sự của đời sống vốn hoàn toàn không
giống như hầu hết chúng ta lầm tưởng. Ngài dạy
rằng: Toàn bộ đời sống của chúng ta, hay nói rộng
hơn là toàn bộ đời sống của mọi chúng sinh trong
cõi thế giới mà ta đang sống, đều được cấu thành
bởi vô số sự chịu đựng những điều bất như ý,
những nguyên nhân dẫn đến khổ đau.
Và vì thế, đức Phật đã gọi tên thế giới này là
thế giới Ta-bà. Danh từ này được phiên âm từ
7
Hoa nhẫn nhục
tiếng Phạn Sahā, có nghĩa là “kham nhẫn”, và
được người Trung Hoa dịch là Nhẫn độ: thế giới
của sự nhẫn chịu.
Mặc dù vậy, cách nhìn nhận này hoàn toàn
không mang ý nghĩa bi quan, cam chịu như nhiều
người thường lầm tưởng. Đây chỉ là một cách nhìn
nhận khách quan và thực tiễn, chỉ ra một sự thật
mà không ai có thể phủ nhận được. Và tự thân
của một nhận thức như vậy không thể hàm chứa
ý nghĩa bi quan hay lạc quan. Vấn đề là chúng ta
chọn cách ứng xử, đối phó với hoàn cảnh theo cách
như thế nào, điều đó mới nói lên ý nghĩa tích cực
hay tiêu cực trong quan điểm sống của mỗi người.
Và một trong những phương pháp đối trị tích cực
với những khổ đau trong đời sống này đã được đức
Phật chỉ dạy từ cách đây hơn 25 thế kỷ chính là
việc tu tập, thực hành hạnh nhẫn nhục.
Nói đến nhẫn nhục, nhiều người thường nghĩ
ngay đến thái độ chịu đựng, chấp nhận một tình
huống trái ý nào đó mà không phản kháng, hoặc
thậm chí là không tránh né. Một số người khác
hiểu nhẫn nhục một cách nôm na là nhịn nhục,
8
Lời nói đầu
chấp nhận bỏ qua những sự xúc phạm hoặc khiêu
khích của người khác đối với mình mà không
phản ứng đáp trả hoặc bực tức. Những cách hiểu
như vậy thật ra cũng không hoàn toàn là sai trái,
và trong rất nhiều trường hợp cũng có thể được
xem là cách chọn lựa sáng suốt trong ứng xử, giúp
chúng ta tránh được nhiều sự tranh chấp, đối đầu
không cần thiết. Tuy nhiên, như đã nói, khái niệm
nhẫn nhục vốn là một thuật ngữ xuất phát từ kinh
điển Phật giáo, và do đó nó mang một số những
nét nghĩa đặc biệt rộng hơn nhiều so với khi được
dùng trong ngôn ngữ thông thường. Và thật ra,
chỉ khi được hiểu đúng và đầy đủ như trong tinh
thần Phật giáo thì nhẫn nhục mới thực sự là một
phẩm chất tích cực, một đức tính cao cả, và mới có
thể phát huy tối đa những công năng chuyển hóa
và hàn gắn mọi khổ đau trong đời sống.
Chúng ta không có một danh từ tiếng Việt nào
tương đương để có thể diễn đạt được trọn vẹn ý
nghĩa của danh từ Kṣānti (Sàn-đề) trong tiếng
Phạn (Sanskrit). Các nhà dịch kinh Trung Hoa
xưa kia đã dùng hai chữ 忍辱 (nhẫn nhục) để
9
Hoa nhẫn nhục
chuyển dịch, nhưng đồng thời họ cũng phải giảng
giải mở rộng thêm ý nghĩa của danh từ này hơn
nhiều so với cách hiểu thông thường. Do có sự
lúng túng này, đôi khi họ cũng thay bằng những
danh từ khác như 安忍 (an nhẫn), 忍耐 (nhẫn nại),
hoặc trong nhiều trường hợp khác chỉ dùng riêng
một chữ 忍 (nhẫn) mà thôi. Người Việt chúng ta
đã mượn trực tiếp danh từ 忍辱 từ chữ Hán và
đọc theo âm Hán-Việt là nhẫn nhục. Danh từ này
đã trở thành quen thuộc với hầu hết người Việt,
nhưng điều đó không có nghĩa là ai cũng có thể
hiểu được nó theo đúng ý nghĩa được dùng khi
muốn diễn đạt khái niệm Kṣānti trong tiếng Phạn.
Thông thường, nhẫn được hiểu là nhịn, và cách
hiểu như vậy là rất giới hạn nếu không muốn nói
là quá hẹp.
Nhưng chúng ta sẽ tạm dừng ở đây mà không
đi sâu vào sự rối rắm của từ ngữ, vì xét cho cùng
thì tất cả mọi khái niệm cũng đều có những giới
hạn nhất định của nó. Vấn đề mà chúng ta sẽ
bàn đến trong tập sách này là những cách hiểu
và thực hành đúng đắn hạnh nhẫn nhục theo lời
10
Lời nói đầu
Phật dạy. Có thể sẽ có những khác biệt nhất định
so với cách hiểu thông thường của đa số chúng ta
trong đời thường, nhưng tôi tin rằng những khác
biệt ấy là cần thiết phải nêu ra để có thể đạt đến
những lợi ích thiết thực và lớn lao trong sự thực
hành.
Tên gọi bao giờ cũng chỉ là tên gọi, và vì thế
đó không phải là điều chúng ta cần chú ý. Vấn đề
quan trọng nhất bao giờ cũng chính là những kết
quả có được từ sự hiểu biết và thực hành. Mọi sự
thuyết giảng, lý giải, cho dù có tỏ ra uyên bác đến
đâu, cầu kỳ hoa mỹ đến đâu, nhưng nếu không
giúp gì được cho sự thực hành trong cuộc sống thì
chắc chắn cũng không thể mang lại chút lợi ích
thực tiễn nào. Điều đó cũng tương tự như những
bông hoa bằng vải hoặc bằng nhựa được bày bán
rất hấp dẫn trong các cửa hàng. Chúng chỉ có thể
để dùng vào mục đích trang trí, chưng bày, và cho
dù bạn có cất công chờ đợi bao lâu đi chăng nữa
cũng chẳng bao giờ có thể nhìn thấy chúng kết
quả, tạo hạt!
Những bông hoa quý giá và thực sự có ích là
những bông hoa có thể tỏa hương thơm, phô bày
11
Hoa nhẫn nhục
vẻ đẹp, nhưng đồng thời cũng có thể kết quả, tạo
hạt, nghĩa là mang đến cho chúng ta những lợi
ích thiết thực và lớn lao. Hạnh nhẫn nhục mà tôi
muốn trình bày với bạn đọc trong tập sách này
là một bông hoa như thế, với tất cả những vẻ
đẹp tinh thần cao quý có khả năng cảm phục và
chuyển hóa mọi người quanh ta, với tất cả những
hương thơm đức hạnh mà bất cứ ai khi tiếp xúc
cũng đều phải mến mộ, kính ngưỡng, và với tất cả
hạt giống lành được kết tụ sẽ luôn mang lại cho
chúng ta vô số những lợi ích lớn lao trong đời sống
hôm nay và mai sau. Vì tất cả những phẩm chất
cao cả và tốt đẹp ấy nên tôi muốn gọi tên đó là hoa
nhẫn nhục.
Những gì được trình bày sau đây ngoài những
gì được ghi chép trong kinh điển còn có cả phần
mô tả chủ quan từ cảm nhận của người viết khi
ngắm nhìn đóa hoa nhẫn nhục trong đời sống. Và
như đã nói, người viết chỉ quan tâm đến những gì
thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho đời sống,
nên mọi ý tưởng dù cao siêu, sâu sắc đến đâu cũng
cần phải diễn đạt theo cách sao cho mọi người đều
có thể tiếp nhận được. Một sự cố gắng như thế
12
Lời nói đầu
không phải là việc dễ dàng, và chắc chắn không
thể tránh khỏi ít nhiều sự sai sót, lệch lạc. Mong
rằng độc giả sẽ có thể xem những gì trình bày
trong sách này như một sự chia sẻ, trao đổi kinh
nghiệm sống hơn là một sự tỏ bày quan điểm hay
thuyết giảng giáo lý. Vì thế, mọi ý kiến đóng góp,
xây dựng đều sẽ được người viết hoan nghênh và
đón nhận với lòng biết ơn sâu sắc nhất.
Trong vườn hoa đức hạnh, chúng ta đã nghe
biết nhiều đến những loài hoa quý như hoa từ bi,
hoa trí tuệ... Thật ra, những phẩm chất cao quý
ấy cũng có thể được nhận biết trong loài hoa nhẫn
nhục mà chúng ta sẽ chiêm ngưỡng hôm nay. Vì
thế, một khi ta chịu bỏ công vun xới, gieo trồng một
trong các loài hoa quý, chúng ta sẽ có thể thông
qua đó mà nhận biết được phẩm chất của những
loài hoa khác. Mong sao mỗi người trong chúng
ta đều tự mình gieo trồng và chiêm ngưỡng, nâng
niu những loài hoa quý ấy để có thể cảm nhận
được phẩm chất tuyệt vời mà không một loài hoa
thế gian nào có được, như sự mô tả của kệ ngôn số
54 trong kinh Pháp cú:
13
Hoa nhẫn nhục
Hương các loại hoa thơm,
Không ngược bay chiều gió.
Chỉ hương người đức hạnh,
Ngược gió khắp tung bay.
Hương thơm đức hạnh là loại hương thơm duy
nhất có thể ngược bay chiều gió, lan tỏa khắp
quanh ta; và cũng là loại hương thơm duy hhất
không chỉ mang đến sự thỏa mãn cho khứu giác
mà còn đem lại sự an vui, hạnh phúc cho bản thân
ta cũng như tất cả mọi người. Và một trong những
phương cách để được tận hưởng loại hương thơm
nhiệm mầu kỳ diệu ấy là chúng ta hãy sớm cùng
nhau gieo trồng trong tâm mình loài hoa nhẫn
nhục.
Nhưng trước hết, ngay bây giờ đây, với tất cả
sự trân trọng, thành kính và thân thiết, xin mời
bạn đọc hãy cùng tôi bước vào khu vườn nhỏ để
chiêm ngưỡng loài hoa ấy: loài hoa mang tên Hoa
nhẫn nhục!
Mùa Phật đản 2551 (2007)
Trân trọng,
Nguyên Minh
14
Một câu nhịn, chín câu lành...
T
heo cách hiểu thông thường của đa số
chúng ta, nhẫn nhục có nghĩa là nhịn
nhục, chịu đựng. Tiêu biểu nhất là tinh thần
nhẫn nhục này khi đi vào dân gian đã được người
xưa thể hiện qua câu tục ngữ: “Một câu nhịn, chín
câu lành.” Trong mọi sự mâu thuẫn, xích mích với
người khác, biết nhịn nhục là điều tốt nhất, vì nó
sẽ mang đến mọi sự an ổn thay vì là hiềm khích,
tranh chấp.
Cách hiểu này có thể giúp ta có được một quan
điểm sống ôn hòa hơn, khuyến khích mọi người
cùng cố gắng duy trì sự đoàn kết và hòa khí trong
cộng đồng. Tuy nhiên, dù sao ta cũng có thể thấy
ngay là ở đây chỉ nêu lên một cách rất chung chung.
Trong thực tế, lắm khi có những trường hợp mà
15
Hoa nhẫn nhục
không phải sự nhịn nhục, chịu đựng hay thối lui
bao giờ cũng là giải pháp tốt nhất. Và trong một
chừng mực nào đó, giải pháp “nhịn nhục” còn có
phần tiêu cực vì nó góp phần vào sự tồn tại của
những yếu tố xấu trong cộng đồng.
Sự thật là trong mỗi một tập thể đều có những
phần tử xấu nào đó, bởi vì ngay trong mỗi con
người chúng ta cũng đều tồn tại những yếu tố xấu
nhất định. Sự nhịn nhục có thể là giải pháp tốt
trong một số trường hợp, nhưng khi đối mặt với
những yếu tố xấu thì nó trở thành tiêu cực, vì nó
cản trở sự vươn lên hoàn thiện của bản thân mỗi
người cũng như của cả cộng đồng.
Khi một thành viên có những cung cách ứng xử
sai trái, gây tổn hại đến những thành viên khác
trong cộng đồng, sự nhịn nhục đối với anh ta sẽ là
một quyết định sai lầm, có hại cho mọi người và
cho cả bản thân anh ta. Ngược lại, những phản
ứng thích hợp cần thiết sẽ giúp anh ta có điều
kiện nhận biết và điều chỉnh hành vi không tốt
16
Một câu nhịn chín câu lành
của mình, và điều đó không chỉ giúp ngăn ngừa
những tổn hại cho mọi người mà còn có lợi cho
chính bản thân anh ta, vì nó giúp anh trở thành
một người hoàn thiện hơn.
Vì thế, nếu hiểu nhẫn nhục là nhịn nhục,
chịu đựng, thì cần thiết phải hiểu thêm rằng đó
là sự nhịn nhục, chịu đựng trong những trường
hợp thích hợp. Nói khác đi, cách hiểu như vậy là
còn quá hẹp so với ý nghĩa thực sự của khái niệm
nhẫn nhục.
Vậy nhẫn nhục là gì? Để hiểu được một cách
đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này, điều tất nhiên
là chúng ta phải quay sang tìm hiểu những sự
giảng giải trong kinh luận của Phật giáo, bởi vì
đây là một thuật ngữ Phật giáo được mượn dùng
để dịch từ Kṣānti (Sàn-đề) trong tiếng Phạn.
Trong kinh Phật, hạnh nhẫn nhục được xếp
vào một trong sáu pháp tu gọi là ba-la-mật, nghĩa
là những pháp tu có thể giúp ta đạt đến sự giải
thoát. Kinh Giải thâm mật (解深密經) quyển 4,
giải thích về nhẫn nhục bao gồm 3 ý nghĩa. Một là
nại oán hại nhẫn (耐怨害忍), nghĩa là nhận chịu
17
Hoa nhẫn nhục
những điều tổn hại do người khác gây ra cho mình.
Hai là an thọ khổ nhẫn (安受苦忍), nghĩa là có thể
an nhiên chấp nhận mọi sự đau đớn, khổ não. Và
ba là đế sát pháp nhẫn (諦察法忍), nghĩa là có
thể quan sát, nhận biết đúng bản chất của mọi sự
việc để an nhiên chấp nhận. Thêm vào đó, luận
Du-già sư địa (瑜伽師地論) quyển 51 mô tả hạnh
nhẫn nhục bao gồm ba tính chất: một là không
giận tức, hai là không kết thành thù oán, và ba là
trong lòng không có những ý tưởng xấu ác.1
Kết hợp sự giải thích và mô tả trong 2 bản kinh
luận nêu trên, chúng ta có thể hiểu được rằng
nhẫn nhục không chỉ đơn giản là sự nhịn nhục,
chịu đựng, mà bao hàm một sự nhận thức, hiểu
biết sâu sắc và toàn diện về đối tượng, sự việc, từ
đó mới dẫn đến sự chấp nhận với một tinh thần
từ hòa, không có sự sinh khởi của sân hận và tư
tưởng xấu ác, và vì thế cũng không tạo ra sự thù
hận, oán ghét.
1
Nguyên văn chữ Hán: 忍辱含不忿怒、不結怨、心不懷惡
意... (Nhẫn nhục hàm bất phẫn nộ, bất kết oán, tâm bất hoài ác
ý... )
18
Một câu nhịn chín câu lành
Còn rất nhiều kinh luận khác giảng giải sâu
xa và toàn diện hơn về hạnh nhẫn nhục, vốn được
xem là một trong các pháp tu quan trọng. Tuy
nhiên, trong phạm vi chúng ta đang muốn bàn
đến thì có thể tạm chấp nhận một định nghĩa như
trên là tương đối hoàn chỉnh. Vấn đề ở đây là,
ngay cả một định nghĩa được giới hạn tương đối
như thế cũng có thể đã là phức tạp và khó hiểu
đối với một số người. Vì thế, có lẽ tốt hơn chúng ta
nên nói rộng thêm đôi chút về những điểm chi tiết
trong định nghĩa này.
Trước hết, cả 3 tính chất được mô tả trong bộ
luận Du-già sư địa - không giận tức, không kết
thành thù oán và không có ý tưởng xấu ác - phải
được xem là những yếu tố tất yếu, không thể thiếu
được đối với hạnh nhẫn nhục. Khi thiếu đi một
trong các yếu tố này, cho dù ta có chấp nhận, có
nhịn nhục được đối với bao nhiêu sự việc đi nữa,
thì điều đó cũng hoàn toàn không thể xem là thực
hành được hạnh nhẫn nhục. Vì thế, thực hành
hạnh nhẫn nhục cũng có nghĩa là phải có sự nuôi
dưỡng, phát triển của cả 3 yếu tố này ngay trong
tự thân chúng ta.
19
Hoa nhẫn nhục
Thứ hai, về 3 ý nghĩa được giải thích trong kinh
Giải thâm mật, nên được xem là những trình tự
phát triển, những bước tiến tuần tự trong sự thực
hành hạnh nhẫn nhục. Và như thế, ở mức độ cao
sẽ bao gồm cả mức độ thấp hơn trước đó, nhưng
khi thực hành một mức độ thấp thì không nhất
thiết ta phải hiểu và thực hành được cả những
yêu cầu của mức độ cao hơn. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy là hai mức độ đầu tiên có nhiều sự gần
gũi hơn, và hầu hết chúng ta đều có thể bắt tay
thực hành ngay nếu có sự cố gắng, trong khi mức
độ thứ ba lại là một sự hoàn thiện rốt ráo của cả
hai mức độ trước đó, và đòi hỏi một quá trình tu
tập dài lâu trước khi có thể thực sự hiểu và hành
trì được ở mức độ cuối cùng này.
Để thấy rõ hơn nhận xét này, trong những
trang sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu qua
cả 3 ý nghĩa của hạnh nhẫn nhục vừa được nói
trên: nhẫn nhục đối với những tổn hại do người
khác gây ra, nhẫn nhục trong những hoàn cảnh
khổ đau, và thấu triệt bản chất của mọi sự việc để
có thể nhẫn nhục với tất cả.
20
Kẻ thù ta đâu phải là người...
M
ột trong những cách ứng xử thông
thường, thậm chí được cho là khôn
ngoan trong cuộc sống, là chúng ta cần phải biết
“ăn miếng trả miếng”. Mà nói theo một cách văn
hoa hơn là “ân đền, oán trả”. Tuy nói là “ân đền,
oán trả”, nhưng thường thì người ta chỉ quan tâm
nhiều đến việc “trả oán” hơn là “đền ân”. Vì vậy
mà ý nghĩa của cả hai “phương châm” trên trong
thực tế cũng chẳng khác gì nhau.
Nhưng cách ứng xử như trên thật ra không
phải là cách ứng xử khôn ngoan, bởi vì trong thực
tế nó chỉ mang lại thêm những khổ đau chứ không
phải là niềm vui và sự thanh thản. Trong cuộc
sống, những thương tổn khi tiếp xúc, va chạm với
21
Hoa nhẫn nhục
người khác là điều gần như không thể tránh khỏi.
Những thiệt hại về vật chất, thương tích trên
thân thể hoặc tổn thương về tình cảm luôn có thể
xảy ra trong những mối quan hệ hằng ngày. Chỉ
cần một chút sơ ý trên đường phố đông đúc, một
người nào đó có thể sẽ va quẹt làm ta bị thương...
Chỉ cần một câu nói thiếu tế nhị, một người đồng
nghiệp có thể xúc phạm đến lòng tự trọng của ta.
Chỉ cần một sự thất hứa do những nguyên nhân
nhất định nào đó, một đối tác có thể gây thiệt hại
cho việc làm ăn, buôn bán của chúng ta...
Một số tổn thương có thể là do đối phương cố ý
gây ra, nhưng phần lớn lại rất có thể chỉ do sự vô
tình hay do hoàn cảnh bắt buộc. Dù vậy, sự phân
biệt cần thiết này thường không dễ thực hiện một
cách khách quan, và trong đa số trường hợp thì
chúng ta hầu như rất dễ có khuynh hướng quy kết
sự việc về cho những nguyên nhân cố ý. Và như
vậy, thay vì để cho vấn đề tự nó qua đi, chúng ta
lại đặt ra cho mình một “nhiệm vụ” phải đáp trả
hành vi của đối phương theo cách “bánh sáp trao
đi, bánh chì đáp lại”.
22
Kẻ thù ta đâu phải là người
Chính khuynh hướng rất thông thường này
lại là một trong những nguyên nhân chính làm
cho sự việc trở nên tồi tệ hơn. Sự thật là, dù cho
những tổn thương đã xảy ra không thể thay đổi,
nhưng những thương tổn tiếp theo sau đó lại hoàn
toàn có thể tránh được nhờ vào quan điểm và cách
ứng xử sáng suốt hơn của mỗi chúng ta.
Bởi vì không ai trong chúng ta muốn bị người
khác xúc phạm hoặc gây thương tổn, nên phần
lớn những phản ứng đáp trả của chúng ta hầu
như chỉ có thể làm cho vấn đề thêm nghiêm trọng
hơn nữa. Sự tổn thương của người khác không bao
giờ có thể làm mất đi những tổn thương mà ta
đã gánh chịu theo cách “một trừ một”. Ngược lại,
trong thực tế thì bao giờ đây cũng là một phép
toán cộng! Sự tổn thương của cả hai bên khi cộng
lại chắc chắn sẽ làm cho tình trạng càng trở nên
xấu hơn. Và nếu mỗi chúng ta không kiềm chế
được lòng sân hận thì sự việc lại càng rất dễ tiến
triển theo cấp số nhân!
Khi chúng ta có thể giữ được sự bình tĩnh và
sáng suốt cần thiết để xem xét vấn đề, chúng ta sẽ
23
Hoa nhẫn nhục
thấy rằng thật ra luôn có hai yếu tố cần phân biệt
rõ trong mỗi một trường hợp gây thương tổn. Đó
là hành vi gây tổn thương và bản thân con người
thực hiện hành vi đó.
Trong cách nghĩ thông thường, chúng ta luôn
gắn liền hai yếu tố vừa nêu. Người làm việc xấu
tất nhiên là người xấu, và hầu hết chúng ta đều
nghĩ như vậy. Nhưng nếu phân tích kỹ vấn đề,
chúng ta sẽ thấy cách suy nghĩ tưởng chừng như
đơn giản và hoàn toàn chính xác này lại là một
kết luận không hợp lý chút nào!
Thứ nhất, dù có cường điệu hóa vấn đề đến đâu
đi chăng nữa thì cũng không có bất cứ con người
nào chỉ làm toàn những việc xấu! Ngay trong
cùng một thời điểm, một người có thể làm những
việc bị xem là rất xấu đối với ta nhưng lại cũng có
những việc tốt không thể phủ nhận đối với người
khác. Còn trong hầu hết những trường hợp đời
thường thì điều này càng rất dễ nhận ra. Nếu có
một người đang làm ta giận dữ, hãy thử nhớ lại
và xem xét hành vi của anh ta trước khi xảy ra sự
việc ấy. Nếu có thể giữ được sự bình tĩnh và khách
24
Kẻ thù ta đâu phải là người
quan, chắc chắn ta sẽ thấy rằng trước đây người
ấy không hề “đáng ghét” như hiện nay. Vì thế, xét
cho cùng thì ta đang giận tức sự việc mà anh ta
vừa mới làm chứ không phải bản thân con người
anh ta. Nói một cách khác, hành vi xấu là một yếu
tố cần điều chỉnh, nhưng bản chất con người vốn
không nghiêng về sự xấu ác. Chỉ cần điều chỉnh
được những hành vi xấu thì cách nhìn của ta đối
với một con người lập tức sẽ thay đổi khác đi. Điều
đó cho thấy rằng việc chúng ta thù ghét một con
người vì những việc xấu họ đã làm là một khuynh
hướng hoàn toàn sai lầm!
Thứ hai, tất cả những con người quanh ta đều
có những mối liên hệ nhất định góp phần vào
sự tồn tại của chính bản thân ta. Nói cách khác,
chúng ta không thể tồn tại trong một môi trường
không có con người. Vì thế, dù trực tiếp hay gián
tiếp thì chúng ta vẫn đang chịu ơn người khác về
sự tồn tại của mình trong đời sống. Chúng ta có
cơm ăn, áo mặc, mọi tiện nghi đời sống, cho đến
đường phố sạch đẹp, an toàn, nơi mua sắm thuận
lợi, phương tiện truyền thông liên lạc... cũng như
25
Hoa nhẫn nhục
vô số những dịch vụ tiện ích khác, tất cả những
thứ ấy không chỉ hoàn toàn do thiên nhiên ban
tặng mà chính là nhờ có sự lao động miệt mài, cần
mẫn đóng góp công sức của biết bao người, trong
đó có cả con người mà ta đang giận ghét vì một
hành vi nhất định nào đó đã gây hại cho ta.
Nếu chúng ta xét trong bối cảnh này thì sẽ
thấy hành vi sai trái - nếu có - của người kia chỉ
là một sự nhất thời, trong khi cả cuộc đời người
ấy là một sự gắn bó với sự tồn tại của ta, và điều
tất nhiên là một phần nhất định trong cuộc sống
của chúng ta có chịu ơn người ấy. Trong mối tương
quan này, việc đồng nhất một hành vi xấu với bản
thân người thực hiện hành vi ấy rõ ràng là không
hợp lý; và do đó sự giận ghét của ta cũng là không
hợp lý.
Khi tôi còn nhỏ, tôi có được nghe và vẫn còn
nhớ lời của một ca khúc khá phổ biến vào thời đó:
“Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì
ta ở với ai...” Trong một chừng mực nào đó, tôi
nghĩ tác giả ca khúc này đã có suy nghĩ hoàn toàn
tương đồng với những gì mà chúng ta vừa trao
26
Kẻ thù ta đâu phải là người
đổi. Đó là một cách nhìn nhận hợp lý mà chúng ta
rất nên ghi nhớ. Hành vi gây tổn thương và bản
thân con người thực hiện hành vi đó là hai yếu
tố khác nhau. Chúng ta không nên vì hành vi sai
trái của một con người mà giận ghét con người đó.
Điều này có vẻ như đi ngược lại khuynh hướng
suy nghĩ thông thường của rất nhiều người. Nhưng
thực tế là tất cả những nền giáo dục và tín ngưỡng
xưa nay của nhân loại đều đặt trên một nền tảng
nhận thức như vậy.
Nho giáo từ lâu vẫn tin rằng “Con người sinh
ra vốn tính hiền thiện.”1 Vì thế, những thói hư tật
xấu chỉ là sự tích lũy, thâm nhiễm lâu ngày trong
cuộc sống. Chỉ cần chịu học hỏi để nhận biết và
loại trừ những thói hư tật xấu thì con người sẽ trở
lại hiền thiện, sẽ trở thành người tốt. Và nếu vậy
thì sự thù ghét một con người vì những việc xấu
họ đã làm quả là điều vô lý. Chính trong ý nghĩa
này mà khi thầy Tử Cống hỏi xin một lời dạy để có
thể theo đó mà thực hành trọn đời thì đức Khổng
1
Nguyên văn chữ Hán: Nhân chi sơ, tính bản thiện. (人之初性
本善。)
27
Hoa nhẫn nhục
Tử đã dạy rằng: đó là sự khoan thứ.1 Khoan dung,
tha thứ cho người khác chính là không giận ghét
họ vì việc xấu mà họ đã làm.
Kinh Thánh cũng dạy rằng hãy mở rộng lòng
bác ái, yêu thương cả những kẻ thù của mình.
Chúng ta chỉ thù ghét một người khi gắn liền
những hành vi gây hại với bản thân người ấy. Vì
thế, nếu ta biết tách rời hai yếu tố con người và sự
việc thì ta sẽ chẳng bao giờ có kẻ thù! Việc khuyến
khích tất cả mọi người mở rộng lòng yêu thương
tất cả chính là dựa trên cách nhận thức này.
Tất cả các hệ thống giáo dục khác nhau cũng
đều hướng đến sự cải hóa những con người có
hành vi xấu chứ không bao giờ xem họ mãi mãi
là thành phần cách ly của xã hội. Điều này cũng
là dựa trên nhận thức rằng bản chất con người là
hiền thiện, và qua sự giáo dục chuyển hóa, loại
bỏ các yếu tố xấu thì bất cứ con người nào cũng
sẽ trở lại bản chất hiền thiện của mình. Ngay cả
Nguyên văn chữ Hán: Tử Cống vấn viết: “Hữu nhất ngôn nhi khả
chung thân hành chi giả hồ.” Tử viết: “Kỳ thứ hồ!...”
(子貢問曰︰有一言而可終身行之者乎?子曰︰其恕乎。)
1
28
Kẻ thù ta đâu phải là người
hệ thống pháp luật cũng luôn ưu tiên sử dụng các
biện pháp giáo dục, cải hóa trước khi buộc phải áp
dụng hình phạt.
Đạo Phật còn tiến xa hơn một bước nữa khi cho
rằng tất cả chúng sinh đều có tánh Phật. Điều đó
có nghĩa là, mỗi con người không chỉ có bản chất
hiền thiện, mà còn sẵn có cả tiềm năng quý giá có
thể tu tập để giác ngộ, thành Phật. Khi nhận thức
theo cách này, sự khiêm hạ của mỗi cá nhân sẽ
được phát triển và sự tôn kính đối với mọi người
quanh ta sẽ trở nên chân thành hơn. Điều đó giúp
ta dễ dàng hơn trong việc loại bỏ những tâm niệm
giận tức hoặc căm ghét đối với những ai có hành
vi gây hại cho mình.
Đã có người hiểu theo cách ngược lại với nhận
xét như tôi vừa nêu trên. Họ cho rằng, khi tự
tin rằng bản thân mình sẵn có tánh Phật, có thể
thành Phật, con người sẽ trở nên tự cao, ngã mạn,
đánh mất đi sự cung kính đối với chư Phật, Bồ
Tát. Tôi không tin vào cách nghĩ này. Vì chẳng ai
lại có thể sinh ra tự cao vì một cương vị mà mình
29
Hoa nhẫn nhục
thật ra chưa có được! “Có thể thành Phật” hoàn
toàn khác với việc “đã thành Phật”, vì điều đó còn
phụ thuộc vào công phu tu tập dài lâu của chúng
ta.
Trong thực tế, một khi bạn tự nhận mình có
xuất thân là con nhà trí thức chẳng hạn, điều đó
chắc chắn sẽ khiến cho bạn phải học cách ứng xử
tốt hơn, thận trọng hơn và phù hợp hơn với vị thế
ấy. Còn việc bạn có thực sự trở thành một người
trong tầng lớp trí thức hay không, điều đó còn tùy
thuộc vào nỗ lực học tập và rèn luyện lâu dài của
bạn.
Tương tự như vậy, nếu tin rằng mình có tánh
Phật, chắc chắn bạn sẽ phải học theo cung cách
của một vị Phật, nghĩa là phải biết hành xử theo
những lời Phật dạy. Điều đó hoàn toàn khác biệt
với việc bạn tự nghĩ rằng mình là một vị Phật, vì
nếu bạn thực sự nghĩ như thế thì chắc chắn đó
30
Kẻ thù ta đâu phải là người
chỉ là một điều hoang tưởng. Và chỉ có sự hoang
tưởng như vậy mới có thể khiến cho người ta trở
nên kiêu mạn, tự cao, mất đi sự cung kính đối với
chư Phật, Bồ Tát.
Nói tóm lại, khuynh hướng tức giận của chúng
ta khi bị ai đó làm hại thật ra chỉ là một quán
tính sai lầm, thiếu sự phân tích khách quan và
hợp lý. Chúng ta hoàn toàn có thể và cần phải
điều chỉnh những hành vi sai trái gây tổn hại đến
người khác, cần phải hết sức ngăn ngừa không để
cho những hành vi như thế lặp lại trong tương lai,
nhưng hoàn toàn không nên vì những hành vi sai
trái đó mà tức giận hoặc ghét bỏ con người đã thực
hiện những hành vi đó.
Chính ở nơi đây mà tinh thần nhẫn nhục được
nhận ra, khi chúng ta nhớ lại những yếu tố cấu
thành hạnh nhẫn nhục: không giận tức, không
kết thành thù oán và không có ác ý.
31
Hoa nhẫn nhục
Khi sự tổn hại mà ai đó gây ra cho ta là có thật,
với tinh thần nhẫn nhục, ta chấp nhận sự tổn hại
đó mà không bực tức khó chịu, vì thật ra thì sự
bực tức khó chịu đó cũng chẳng thay đổi được gì
mà chỉ làm cho ta càng cảm thấy khó chịu đựng
hơn đối với những hậu quả xấu vốn đã xảy ra.
Và vì hiểu rằng hành vi với con người thực hiện
hành vi là hai yếu tố khác nhau nên ta sẵn lòng
góp ý xây dựng hoặc phê phán hành vi sai trái đó,
nhưng không giận tức hay ghét bỏ con người đã
thực hiện hành vi ấy. Vì không giận tức nên ta sẽ
không làm bất cứ điều gì gây tổn hại cho người ấy,
và vì thế mà không kết thành thù oán. Vì không
giận tức và không kết thành thù oán nên cũng
không có điều kiện để nảy sinh những tư tưởng
xấu ác.
Khi ta thực hiện theo đúng tinh thần như thế,
đó là ta đã thành tựu được hạnh nhẫn nhục ở mức
độ đầu tiên, mức độ mà trong kinh Giải thâm mật
gọi là “nại oán hại nhẫn”.
32
Kẻ thù ta đâu phải là người
Khi chúng ta so sánh với cách hiểu thông
thường thì sự nhịn nhục, chịu đựng những hành
vi gây hại của kẻ khác chưa hẳn đã là nhẫn nhục.
Trong thời lập quốc của nhà Hán ở Trung Hoa, vị
tướng tài giỏi nhất của Lưu Bang là Hàn Tín vẫn
thường được nhắc đến với câu chuyện “chịu nhục
luồn trôn”. Thuở hàn vi, Hàn Tín chưa được ai
biết đến tài năng của mình nên phải mưu sinh vất
vả, nhưng lúc nào cũng đeo bên mình một thanh
gươm. Một hôm, có tên bán thịt hung hăng chặn
ông ở giữa chợ và nói rằng: “Mày có tài cán gì mà
lúc nào cũng đeo gươm bên người như tướng soái.
Có giỏi thì đâm chết tao đi, bằng không thì phải
chui qua dưới trôn tao.” Mọi người trong chợ đổ xô
đến xem. Hàn Tín suy nghĩ một lát rồi lẳng lặng
cúi xuống chui qua trôn tên hàng thịt.
Hàn Tín vì không muốn thí mạng với một kẻ
tầm thường thô bạo, muốn giữ lại thân mình để
nuôi chí lớn về sau nên sẵn sàng nhẫn chịu cái
nhục luồn trôn giữa chợ. Nhưng sự nhẫn chịu của
ông chưa đủ để gọi là nhẫn nhục. Nếu trong khi
chấp nhận sự tổn thương tinh thần như thế mà
33
Hoa nhẫn nhục
ông vẫn không sinh lòng oán giận tên hàng thịt
thì đó mới thực sự là hạnh nhẫn nhục.
Điều này nói thì dễ mà làm thì khó. Trong cuộc
sống, nhiều khi ta vẫn phải cắn răng nhịn nhục,
chịu đựng sự tổn hại do người khác gây ra vì nhiều
lý do khác nhau. Vì kẻ gây hại cho ta là người
đang giữ thế mạnh, như trường hợp những nhân
viên phải chấp nhận chịu đựng sự vô lý hoặc trái
tính của cấp trên, vì họ sợ rằng nếu phản đối sẽ
dẫn đến những tổn hại lớn hơn. Cũng có thể vì ta
muốn chấp nhận một sự tổn hại nhỏ để có thể đạt
đến một lợi ích lớn hơn, như trường hợp một người
chủ thuê chấp nhận chịu đựng, nhẫn nhịn đối với
những yêu cầu thái quá của một nhân viên, vì
muốn giữ anh ta lại để sử dụng vào những công
việc mang lại lợi ích lớn hơn cho ông ta. Người ta
cũng có thể nhịn nhục chịu đựng vì sự hèn nhát,
vì kém hiểu biết, hoặc chỉ đơn giản là vì muốn
được yên ổn... Nhưng tất cả những sự nhẫn chịu
như thế đều không phải là hạnh nhẫn nhục, vì
nó không bao hàm đủ những yếu tố như chúng ta
vừa nêu.
34
Kẻ thù ta đâu phải là người
Sự khác biệt cần nói ở đây là, trong khi hạnh
nhẫn nhục là một tinh thần tích cực giúp ta thăng
hoa đời sống, thì những thái độ nhịn nhục, chịu
đựng như trên lại chỉ có thể làm cho tinh thần
chúng ta ngày càng suy thoái, bạc nhược hơn,...
 





